bài giảng pháp luân công số 6
Pháp Luân Công tốt hay xấu nhìn từ khía cạnh sức khỏe. Tập Pháp Luân Công tốt cho sức khỏe; đó là thông tin được ghi nhận trên nhiều trang tin, báo đài, mạng xã hội. Ví dụ, báo Sức khỏe và Ðời sống, cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế, số 85 (3382) ngày 15/7/2016, đăng bài
2 Pháp Luân Trang Pháp. Bao gồm bốn tư thế đứng tĩnh, mỗi tư thế được giữ trong vài phút. Bài công pháp thứ hai này giúp gia tăng năng lượng và khai mở trí huệ. 3 Quán Thông Lưỡng Cực Pháp. Bài công pháp này chủ yếu gồm các động tác tay lên xuống nhẹ nhàng, tịnh hóa
Chúng tôi giảng rằng tu luyện phải chuyên nhất; bất kể chư vị tu như thế nào, thì cũng không thể trộn lẫn với những thứ khác mà loạn tu. Có những cư sỹ, họ vừa tu những điều trong Phật giáo, vừa tu những điều của Pháp Luân Đại Pháp chúng tôi. Tôi nói cho chư vị
(Luận văn đại học thương mại) giải pháp hoàn thiện kênh phân ph i sản phẩm dầu thực vật của công ty TNHH thƣơng mại t n nghĩa tại hà nội Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu.
Mỗi khi gặp khó khăn nghe bài giảng này để có Động Lực mà bước tiếp - Vấn Đáp Thầy Thích Pháp Hòa là bài viết mà chuyên mục Cách chơi game của website
Vay Tiền Online Từ 18 Tuổi Bankso Vn. Các Bài Giảng Pháp Luân Công, 5 Bài Giảng Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 6 Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 7 Pháp Luân Công, Bài Giảng Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 8 Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 9 Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ Bảy Pháp Luân Công, Bài Giảng 5 Pháp Luân Công, Bài Giảng Pháp Luân Công 1, Bai Giang Phap Luan Cong Bai 1, Bài Giảng Pháp Luân Công Bài 1 Sgk, Bài Giảng Pháp Luân Công Bài 2, Bài Giảng 9 Pháp Luân Công, Bai Giang Phap Luan Cong Thu 1 , Bài Giảng 6 Pháp Luân Công, Bài Giảng 7 Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 7 Của Pháp Luân Công, 9 Bai Giang Pháp Luan Cong, Bài Giảng Thứ 4 Của Pháp Luân Công, Tai Bai Giang Phap Luan Cong, Bài Giảng Số 5 Pháp Luân Công, Tải 9 Bài Giảng Pháp Luân Công, Đọc 9 Bài Giảng Pháp Luân Công, 5 Bài Giảng Của Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 4 Pháp Luân Công, Phap Luan Cong Bai Giang Thu 4, Bài Giảng 1 Pháp Luân Công, Bài Giảng Thứ 5 Pháp Luân Công, Bài Giảng 3 Pháp Luân Công, Pháp Luân Công Bài Giang Số 6, Bài Giảng 4 Pháp Luân Công, Bài Giảng 5 Của Pháp Luân Công , Bai Giang Thu 3 Phap Luan Cong, 9 Bài Giảng Pháp Luân Công - Đại Pháp, Bài 1_bài Giảng Của Pháp Luân Công khí Công Phật Gia, Bài Giảng Thứ Nhất Của Pháp Luân Công, 9 Bài Giảng Của Sư Phụ Lý Hồng Chí Về Pháp Luân Công,
Học 9 bài giảng Pháp Luân Công trong sách "Chuyển Pháp Luân". 9 Bài giảng Pháp Luân Công được đăng tải ở đâu? Nội dung và cách học như thế nào? Pháp Luân Công từ khi được truyền ra tại Trung Quốc năm 1992 cho đến nay đã có mặt tại hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ. Không phân biệt ngôn ngữ, dân tộc, những người theo học đều luôn dành thời gian để học 9 bài giảng Pháp Luân Công và thực hành trong cuộc sống hàng ngày. 1. 9 Bài giảng Pháp Luân Công được đăng tải ở đâu? Trên website chính thức của Pháp Luân Công là người truy cập có thể dễ dàng tìm thấy nội dung 9 bài giảng của Sư Phụ Lý Hồng Chí được đăng tải bằng nhiều ngôn ngữ. Năm 1992, Sư phụ Lý Hồng Chí - người sáng lập Pháp Luân Công đã giới thiệu môn tập đến với công chúng tại Trung Quốc đại lục. Trong vòng hai năm 1992 - 1994, Sư phụ Lý đã tổ chức 56 khoá giảng trên khắp cả nước theo lời mời của Hiệp hội Khí công các địa phương tại Trung Quốc. Vào thời gian này, mỗi khoá học được tổ chức với 10 buổi học; gồm 9 buổi giảng Pháp và một buổi chia sẻ, tổng kết khóa học. Năm 1993, cuốn sách “Pháp Luân Công” được xuất bản hiệu chỉnh năm 1994 để hướng dẫn người học những khái niệm cơ bản và giải đáp các thắc mắc liên quan đến môn tập. Tới năm 1994, cuốn sách chính của Pháp Luân Công là cuốn “Chuyển Pháp Luân" của Sư phụ Lý được xuất bản. Nội dung của cuốn sách được Sư phụ Lý biên soạn từ các khóa giảng trước đây của mình và sắp xếp lại một cách hệ thống thành 9 bài giảng. Đây là cuốn sách chính hướng dẫn người học Pháp Luân Công trong suốt quá trình thực hành trong cuộc sống. Người học Pháp Luân Công đọc sách Chuyển Pháp Luân hàng ngày. 2. Nội dung cơ bản của 9 bài giảng Pháp Luân Công Pháp Luân Công Bài giảng thứ nhất Bài 1 của Pháp Luân Công giới thiệu với người học những đặc điểm của môn tập này. Ngay từ bài 1, cuốn sách đã mang đến nhiều kiến thức từ vật lý học; lịch sử học; khảo cổ học; thiên văn học… từ đó giúp người đọc hiểu được lịch sử của khí công, mối quan hệ giữa khí công và tu luyện. Người đọc sách cũng hiểu được tiêu chuẩn dùng Chân - Thiện - Nhẫn trong quá trình thực hành Pháp Luân Công… Xem nội dung chi tiết bài giảng thứ nhất. Bài giảng thứ 2 Bài 2 của Pháp Luân Công đề cập tới những vấn đề liên quan đến thiên mục hay con mắt thứ ba; Giải thích về các công năng đặc dị mà khoa học hiện tại chưa thể lý giải thấu đáo như công năng dao thị, công năng túc mệnh thông…; Bàn tới những nội dung như không trong ngũ hành, ra ngoài tam giới; vấn đề hữu sở cầu… Xem nội dung chi tiết bài 2. Bài giảng thứ 3 Ở bài giảng này, sách Chuyển Pháp Luân chỉ ra sự khác biệt giữa Phật gia, Phật giáo và cũng trình bày rõ Pháp Luân Đại Pháp không phải là Phật giáo. Bài giảng cũng giải thích những hiện tượng trong giới tu luyện để người học nắm được rõ như công năng và công lực; phản tu và tá công; phụ thể; trường năng lượng…; đồng thời nêu rõ những người theo tập Pháp Luân Công sẽ hướng dẫn, giúp đỡ những người mới học như thế nào… Xem nội dung chi tiết bài 3. Bài giảng Pháp Luân Công 4 Nội dung bài giảng đề cập đến quan hệ giữa mất và được trong quá trình thực hành theo các nguyên lý của Pháp Luân Đại Pháp; từ đó giúp người học biết cách sửa đổi tâm tính như thế nào để trở thành người nhẫn nại hơn, tốt hơn… Bài giảng này cũng giải thích những khái niệm về tu luyện như quán đỉnh, huyền quan thiết vị… Xem nội dung chi tiết bài 4. Bài giảng thứ 5 Các nội dung được đề cập đến trong bài giảng này bao gồm giải thích về đồ hình Pháp Luân của môn tập; cùng nhiều nội dung liên quan đến tu luyện như Kỳ môn công pháp, luyện tà pháp; nam nữ song tu; tính mệnh song tu; Pháp thân, khai quang; khoa chúc do… Xem nội dung chi tiết bài 5. Bài giảng thứ 6 Bài 6 giải thích rõ về nhiều tình huống như tẩu hỏa nhập ma; luyện công chiêu ma; tự tâm sinh ma; Giúp người học hiểu về khí công võ thuật; cần bỏ đi tâm lý hiển thị trong quá trình theo học… Xem nội dung chi tiết bài 6. Bài giảng thứ 7 Bài 7 của Pháp Luân Công hướng dẫn người học ứng xử đối với vấn đề sát sinh; vấn đề ăn thịt như thế nào… trong cuộc sống; chỉ ra tâm đố kỵ, ghen tỵ với người khác sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình đề cao tâm tính của bản thân. Bài giảng này cũng nói chi tiết về vấn đề trị bệnh ở bệnh viện và trị bệnh bằng khí công… Xem nội dung chi tiết bài 7. Bài giảng thứ 8 Đề cập đến vấn đề tịch cốc và những hiện tượng xấu làm ảnh hưởng tới những người học khí công chân chính như trộm khí; thu khí. Bài giảng này cũng chỉ rõ những đặc điểm của Pháp Luân Đại Pháp khác với các môn tu luyện, khí công khác như ai luyện công thì đắc công; chu thiên; vấn đề tu khẩu… Xem nội dung chi tiết bài 8. Bài giảng Pháp Luân Công 9 Bài giảng thứ 9 chỉ rõ ra sự khác biệt giữa khí công và tập thể dục; giải thích nguyên nhân vì sao người tập không thể thiền định tĩnh tại... Bài giảng cũng đề cập đến những nội dung về căn cơ; ngộ tính; người đại căn khí… Xem nội dung chi tiết bài 9. 3. Tìm học 9 bài giảng Pháp Luân Công ở đâu? 9 bài giảng Pháp Luân Công được biên soạn theo ba hình thức gồm sách Chuyển Pháp Luân; 9 bài giảng audio; và video trên website chính thức của Pháp Luân Công. Người học có thể chọn hình thức phù hợp với bản thân như tự đọc online hoặc tải về download sách Chuyển Pháp Luân bản pdf; nghe 9 bài giảng Pháp Luân Công mp3; hay xem trực tuyến video. Tất cả những tư liệu này đều hoàn toàn miễn phí. Hoặc người học có thể đặt mua sách in để học 9 bài giảng về Pháp Luân Công. Xem thêm Sách Pháp Luân Công mua ở đâu? Cách đọc như thế nào? 4. Học 9 bài giảng Pháp Luân Công như thế nào cho hiệu quả? Việc học Pháp Luân Công đều là tự nguyện; tuỳ mỗi cá nhân tự sắp xếp thời gian học 9 bài giảng và luyện 5 bài Công Pháp. Theo chia sẻ của nhiều người tập, nên đọc sách Chuyển Pháp Luân hoặc nghe bài giảng Pháp hàng ngày; học lần lượt; dù có thời gian học nhiều hay ít; khi học đều cần tập trung. Điều thú vị khi học 9 bài giảng Pháp Luân Công là mỗi lần đọc đều có cảm giác mới mẻ và có thêm được nhận thức, lý giải mới. Bởi vậy, có nhiều người học Pháp Luân Công đã rất nhiều năm và vẫn đang học các bài giảng Pháp hàng ngày. 9 bài giảng Pháp Luân Công đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được người dân trên khắp thế giới đón nhận. Bạn có thể tự học 9 bài giảng; hoặc liên lạc với những người học Pháp Luân Công để được hướng dẫn thêm chi tiết. Diệp Anh Xem thêm Truyền kỳ về Đại sư Lý Hồng Chí 10 điều ĐCSTQ không muốn bạn biết Pháp Luân Công lừa đảo hay không? 10 điều bóc trần sự thật 10 Đặc điểm nhận diện bản chất Pháp Luân Công Tự học Pháp Luân Công trọn bộ tại nhà Đơn giản - Dành cho mọi lứa tuổi
Thư viện Video & Audio - 9 bài giảng Nhạc luyện công 9 bài giảng Nhạc Đại Pháp Video BÀI GIẢNG 1 Your browser doesn't support this video well. Please download it from the link on the right. 2 3 4 5 6 7 8 9 Download audio Bài 1 mp3 Bài 2 mp3 Bài 3 mp3 Bài 4 mp3 Bài 5 mp3 Bài 6 mp3 Bài 7 mp3 Bài 8 mp3 Bài 9 mp3 © Copyright 1992-2023 Li Hongzhi. All rights reserved. liên lạc
Bài giảng thứ tám Tịch cốc Một số người đề cập đến vấn đề tịch cốc. Hiện tượng tịch cốc có tồn tại; không chỉ có trong giới tu luyện, trong toàn thể xã hội nhân loại chúng ta cũng có không ít người xuất hiện tình huống này. Có người không ăn không uống trong mấy năm [liền], hoặc mười mấy năm [liền], nhưng vẫn sống tốt. Có người nói tịch cốc là thể hiện của một tầng nào đó; có người nói tịch cốc là biểu hiện của thân thể tịnh hoá; cũng có người nói tịch cốc là quá trình tu luyện tại cao tầng. Thực ra đều không phải. Vậy hỏi đó là điều gì? Trên thực tế tịch cốc chính là một phương pháp tu luyện đặc thù mà chúng ta sử dụng trong [một số] hoàn cảnh đặc định. Vào hoàn cảnh đặc định nào thì sử dụng đến nó? Vào thời Trung Quốc cổ đại, nhất là trước khi thành lập tôn giáo, có rất nhiều người tu luyện họ đều sử dụng phương pháp mật tu, tu luyện đơn độc; đi vào núi sâu hoặc chui vào hang động trong núi mà tu, tách ly xa khỏi nơi con người quần tụ sinh sống. Một khi làm như vậy sẽ động chạm đến vấn đề nguồn cấp lương thực. Nếu như họ không sử dụng phương pháp tịch cốc, thì hoàn toàn tu luyện không được, sẽ chết đói chết khát ở đó. Khi tôi từ Trùng Khánh đến Vũ Hán giảng Pháp, ngồi thuyền xuôi dòng Trường Giang về phía Đông, thì thấy hai bên bờ Tam Hiệp có một số động đá ở lưng chừng núi, nhiều vùng núi danh tiếng cũng có những [hang động] như thế. Người tu luyện trong quá khứ sau khi dùng dây để trèo vào trong, liền cắt đứt dây đi, [rồi] tu luyện ở trong động; [nếu] không tu luyện xuất lai, thì sẽ chết ở trong đó. Không có nước, không có lương thực, họ đã sử dụng phương pháp tu luyện đặc thù ấy ở trong chính hoàn cảnh cực kỳ đặc thù này. Có nhiều công pháp đã trải qua quá trình truyền thừa như vậy, do đó nó có tịch cốc; có nhiều công pháp không có tịch cốc; các công pháp được truyền xuất ra nơi xã hội chúng ta hiện nay đa số là không có điều này. Chúng tôi giảng rằng luyện công phải chuyên nhất, chư vị không thể mong muốn theo cách con người như thế nào liền làm nấy. Chư vị cho rằng nó rất tốt, chư vị cũng muốn tịch cốc; hỏi chư vị tịch cốc làm gì? Có người cho rằng [nó] rất tốt, [nên] hiếu kỳ, hoặc cho rằng bản thân mình công phu cao rồi, có thể hiển thị này khác; các chủng tâm thái của người ta đều có [cả]. Ngay cả khi dùng phương pháp ấy tu luyện, thì cũng phải tiêu hao năng lượng của tự thân để bổ sung cho thân thể, do vậy cái được chẳng bõ cho cái mất. Như mọi người đã biết, nhất là sau khi thành lập tôn giáo, khi chư vị trong chùa ngồi thiền, bế quan, đều có người cung cấp cho chư vị trà và thức ăn, [nên] không động chạm đến vấn đề này. Nhất là chúng ta tu luyện trong xã hội người thường, chư vị hoàn toàn không cần phải dùng đến phương pháp này; hơn nữa pháp môn chư vị nếu không có [nó] thì chư vị không thể [tập luyện nó mà] loạn. Nếu chư vị thật sự muốn tịch cốc, chư vị cứ thử tu. Theo tôi được biết, thông thường khi sư phụ truyền công lên cao tầng, nếu thật sự đưa người lên, [và] tại pháp môn của ông có tịch cốc, thì có thể xuất hiện hiện tượng ấy, nhưng ông không thể phổ cập [rộng rãi], thông thường đều mang đồ đệ đi mật tu, tu đơn độc. Hiện nay cũng có các khí công sư dạy người ta tịch cốc. Tịch cốc được không? Rốt cuộc không tịch được; hỏi ai tịch được nào? Tôi thấy không ít [người] phải nhập viện, không ít người xuất hiện nguy hiểm đến sinh mệnh. Vậy tại sao xuất hiện tình huống ấy? Hiện tượng tịch cốc phải chăng không có? Có. Nhưng có một điểm trạng thái này của xã hội người thường chúng ta, không ai được phép tự dưng phá hoại, không cho phép phá hoại. Không nói trên toàn quốc bao nhiêu người luyện công không ăn không uống, chỉ nói riêng nơi Trường Xuân này ai ai cũng không ăn không uống, tôi nói vậy thì giản tiện quá rồi! Khỏi phải vội vàng làm cơm nữa. Nông dân làm ruộng vất vả khó nhọc là thế, giờ [không ai] cần ăn nữa, rất giản tiện; cứ làm việc mãi, khỏi phải ăn. Như vậy có được không? Đó còn là xã hội nhân loại không? Khẳng định là không được, không cho phép sự việc như thế can nhiễu đến xã hội người thường trên diện rộng. Khi một số khí công sư truyền tịch cốc, xuất hiện rất nhiều nguy hiểm. Có người chấp trước vào truy cầu tịch cốc, nhưng cái tâm kia của họ chưa hề bỏ, còn rất nhiều tâm của người thường chưa hề vứt bỏ, khi thấy đồ ăn ngon nhưng không được ăn liền thèm quá, cái tâm ấy của họ hễ khởi lên là không ổn rồi. Họ thấy rất sốt ruột phải ăn gì đó, dục vọng thăng lên liền phải ăn, không ăn cảm thấy đói. Nhưng ăn vào phải nôn ra, không ăn vào được; điều này tạo thành tinh thần căng thẳng, sợ hãi ghê lắm. Rất nhiều người đã vào bệnh viện, thực sự đã có rất nhiều người gặp nguy hiểm đến sinh mệnh. Cũng có người tìm đến tôi nhờ tôi xử lý những ca loạn bậy ấy; tôi không muốn quản sự việc này. Có những khí công sư rất hồ đồ, không ai muốn theo [xử lý] những sự loạn bậy cho họ. Hơn nữa, chư vị tịch cốc mà gặp vấn đề, thì chẳng phải là vì tự chư vị cầu? Chúng tôi giảng rằng hiện tượng ấy tồn tại, nhưng nó không phải là trạng thái nào đó xuất hiện ở cao tầng, cũng không phải là phản ánh đặc thù gì, nó chẳng qua chỉ là một phương thức tu luyện được dùng trong một tình huống đặc thù, nhưng không thể phổ cập nó được. Có không ít người truy cầu tịch cốc, lại còn gọi nó thành tịch cốc thế này thế khác, bán tịch cốc’, cũng phân thành đẳng cấp Có người nói rằng họ [chỉ cần] uống nước, có người nói [chỉ cần] ăn hoa quả; đó đều là tịch cốc giả. Sau một thời gian lâu, đảm bảo sẽ không còn được nữa. Người chân chính tu luyện; một khi vào sơn động, [thì] không ăn không uống, đó là tịch cốc chân chính. Trộm khí Nói về trộm khí, có người biến sắc như nói đến cọp vậy, sợ quá không dám luyện công. Nhiều vị vì giới tu luyện có người truyền nhiều thuyết như tẩu hoả nhập ma, trộm khí, mà làm cho người ta không dám luyện công, không dám tiếp xúc với khí công. Nếu như không có những thuyết ấy, có thể sẽ có nhiều người luyện công hơn nữa. Cũng có một số khí công sư tâm tính bất hảo, chuyên môn dạy những thứ ấy, làm cho giới tu luyện ô yên chướng khí; thực ra không đáng sợ như họ nói đâu. Chúng ta giảng khí chỉ là khí, dẫu cho chư vị có nói thành hỗn nguyên khí’, khí này khí nọ [đi nữa]. Hễ thân thể người ta có khí, thì cá nhân ấy vẫn ở trong tầng chữa bệnh khoẻ người, cho nên chưa được tính là người luyện công. Người ta chỉ cần có khí, thì minh chứng rằng cá nhân ấy chưa đạt được đến thân thể tịnh hoá cao độ, đó chính là vẫn còn khí bệnh, điều này là khẳng định. Người trộm khí cũng ở trong tầng khí ấy thôi; chúng ta là người luyện công nào có ai cần cái khí dơ bẩn ấy? Người không luyện công khí của thân thể họ rất dơ, luyện công rồi có thể trong sáng ra. Chỗ có bệnh có thể hiển lộ ra một cục vật chất màu đen có mật độ rất cao. Luyện tiếp dần dần, đến khi thật sự đạt đến chữa bệnh khoẻ người, khí sẽ dần dần chuyển sang màu vàng. Luyện tiếp sẽ thật sự chữa bệnh khoẻ người, cũng không còn khí nữa, tức là tiến nhập sang trạng thái nãi bạch thể’. Như vậy cũng nói có khí là có bệnh. Chúng ta là người luyện công, luyện công ai còn muốn khí làm gì? Bản thân tự mình cần tịnh hoá, cớ chi còn muốn khí dơ bẩn kia chứ! Khẳng định là không cần. Người muốn khí cũng là ở trong tầng khí, ở tầng khí họ không phân biệt được đâu là khí tốt, đâu là khí xấu, họ không có bản sự ấy. Còn khối chân khí ở đan điền nơi thân thể chư vị thì họ không động đến được; chỗ nguyên khí ấy phải là người có công phu cao mới có thể động đến được. [Còn] khí dơ bẩn kia trong thân thể, thì để họ trộm lấy; có gì là quan trọng đâu. Khi tôi luyện công nếu muốn quán khí, chỉ cần nghĩ một chút, một lúc bụng này sẽ đầy ngay. Đạo gia giảng thiên tự trang, Phật gia giảng ôm khí quán đỉnh; trong vũ trụ có [toàn là] khí, chư vị có thể suốt ngày quán vào trong. Huyệt lao cung khai mở, huyệt bách hội đả khai, chư vị quán vào trong, ý đặt đan điền, tay [bưng] khí vào trong, một lúc sẽ đầy thôi. Chư vị dẫu có quán đầy đến mấy cũng có tác dụng gì đâu? Có người khi luyện khí luyện rất nhiều, cảm thấy ngón tay trướng lên, thân thể trướng lên. Người khác đến bên, cảm nhận thấy chung quanh [vị ấy] có một trường. Ái chà, bạn luyện công luyện tốt thật đấy’. Tôi nói rằng chẳng là gì cả, hỏi công ở đâu? Vẫn là luyện khí thôi, khí nhiều đến mấy cũng không thay thế được công. Mục đích luyện khí là lấy khí tốt bên ngoài giao hoán với khí bên trong thân thể, là để tịnh hoá thân thể; hỏi giữ khí ấy để làm gì? Chư vị tại tầng ấy, [khi] chưa có thay đổi về bản chất, [thì] nó cũng không phải là công. Chư vị trộm được bao nhiêu đi nữa, chư vị bất quá chỉ là cái bao khí to; hỏi có tác dụng gì? Nó chưa chuyển hoá hướng đến vật chất cao năng lượng. Do đó chư vị sợ gì, họ thật sự [muốn] trộm thì [để họ] trộm. Mọi người thử nghĩ coi, thân thể chư vị có khí là có bệnh. Như thế khi trộm khí, chẳng phải cũng trộm luôn cả khí bệnh của chư vị có phải không? Họ hoàn toàn không phân biệt được điều ấy, bởi vì người muốn khí cũng ở tại tầng khí này [thôi], họ chưa có bản sự gì cả. Người có công sẽ không muốn khí, điều ấy là khẳng định. Không tin thì chúng ta làm thí nghiệm, [nếu họ] thật sự muốn trộm khí thì chư vị đứng ở kia cho họ trộm, một mặt chư vị nghĩ rằng đang quán khí vũ trụ vào trong, còn họ ở đằng sau trộm khí. Chư vị sẽ thấy thật là tốt, thay cho chư vị [làm] tăng nhanh tịnh hoá thân thể, chư vị đỡ khỏi phải xung quán xung quán. Bởi vì tâm mà họ xuất phát là xấu, muốn trộm lấy những thứ của người khác, dẫu rằng là [trộm lấy] thứ không tốt, họ cũng đã phạm phải việc tổn đức; do đó họ phải cấp đức cho chư vị. Nó hình thành một thứ đối lưu, một phía lấy khí của chư vị, một phía cấp đức cho chư vị. Cá nhân lấy trộm khí ấy không hiểu biết; nếu họ biết thế thì họ đã không dám làm! Phàm là người trộm khí, sắc mặt đều xanh, đều là như vậy. Đến công viên luyện công, rất nhiều người đều là để [bài trừ khí] bệnh, bệnh nào cũng có. Người ta khi trị bệnh, là phải bài xuất ra; nhưng người trộm khí ngay cả bài xuất ra cũng không, mà lại [rước vào] thân, khí bệnh nào cũng có; ngay cả trong thân thể cũng tối đen như mực. Họ cứ tổn đức mãi, bên ngoài của họ cũng đen, trường nghiệp lực thật to lớn, đức tổn mất nhiều rồi, thì bên trong bên ngoài cũng đen. Người trộm khí nếu biết rằng bản thân mình đã thay đổi như thế, đang cấp đức cho người ta, đang làm công việc thật dại khờ như thế, thì họ đã không làm như vậy. Có người nói rất huyền [bí] về khí Ông ở Mỹ, tôi phát khí ông có thể tiếp được; ông đợi ở ngoài bức tường, tôi phát khí ông sẽ tiếp được’. Có người rất mẫn cảm, hễ phát khí liền tiếp được ngay. Tuy nhiên khí ấy không truyền trong không gian này, nó dẫn ở không gian khác; tại không gian khác kia ở đó không có bức tường. Vì sao có khí công sư ở chỗ đất bằng phẳng phát khí, chư vị lại không cảm giác thấy gì? Ở không gian khác ấy có chỗ gián cách; do vậy khí không có lực xuyên thấu to lớn như chúng ta giảng. [Điều] thật sự có tác dụng cũng chỉ là công. Người luyện công khi có thể phát xuất công, thì họ đã không còn khí nữa; phát xuất ra một loại vật chất cao năng lượng; dùng thiên mục mà nhìn thì thấy là một loại ánh sáng. Phát đến thân của người khác, có một cảm giác nóng bừng, trực tiếp có thể ước chế người thường. Tuy nhiên điều đó vẫn không đạt đến mục đích trị bệnh hoàn toàn; chỉ phát huy tác dụng ức chế. Muốn thật sự trị bệnh thì phải có công năng tồn tại; mỗi chủng bệnh có một chủng công năng tương ứng nhắm vào. Ở mức cực vi quan, từng vi lạp của công, đều có hình tượng giống với cá nhân chư vị. Chúng có khả năng nhận thức được người ta, đều có linh tính, là vật chất cao năng lượng; người khác dẫu có trộm lấy đi, thì chúng liệu có thể ở lại đó hay không? Chúng sẽ không ở đó, cũng không đặt lên được, [chúng] không phải là thứ của bản thân người ấy. Phàm là người luyện công chân chính, thì ai sau khi đã xuất hiện công đều có sư phụ quản; sư phụ ở đó thấy chư vị đang làm gì; lấy những thứ của người ta, thì sư phụ của họ cũng không chấp nhận. Thu khí Trộm khí’ và thu khí’ không phải là những vấn đề mà chúng tôi phải giải quyết cho chư vị khi truyền công tại cao tầng. [Mà] là vì tôi còn có một mục đích như thế này khôi phục danh tiếng của tu luyện, làm một số điều tốt, mà giảng rõ ra một số hiện tượng bất lương; trước đây không có ai giảng. Nếu mọi người chúng ta đều biết về nó, thì những người kia không thể mãi làm điều xấu nữa; một số người hễ [nói] đến những chân tướng bất minh trong khí công là biến sắc cứ như thể là nói về cọp dữ vậy. Khí vũ trụ thật là [nhiều], có người giảng khí thiên dương, khí địa âm. Chư vị cũng là các phần tử trong vũ trụ, chư vị cứ thu [khí vũ trụ] đi. Tuy nhiên có người không thu khí vũ trụ, họ chuyên môn dạy người ta thu khí của cây; còn tổng kết ra kinh nghiệm khí cây dương màu trắng, khí cây tùng màu vàng, rồi thu như thế nào, thu vào thời gian nào. Cũng có người nói Trước nhà tôi có cái cây, tôi đã thu khí của nó làm nó chết rồi’. Bản sự ấy được tính là gì đây? Đó chẳng phải làm điều xấu là gì? Như mọi người đã biết, chúng ta tu luyện chân chính, [chúng ta] chú trọng các tín tức có tính lương [thiện], chú trọng đến việc đồng hoá với đặc tính vũ trụ; chư vị chẳng phải nói về vấn đề Thiện là gì? Đồng hoá với đặc tính Chân Thiện Nhẫn của vũ trụ, phải chú trọng Thiện. Chư vị cứ làm điều xấu liệu có thể tăng công hay không? Có thể hết bệnh không? Chẳng phải hoàn toàn tương phản với người tu luyện chúng ta là gì? Đó cũng là sát sinh làm điều xấu! Có lẽ cũng có người nói Thầy càng giảng càng huyền [hoặc], giết động vật là sát sinh, mà giết thực vật cũng là sát sinh’. Thực ra đúng như vậy đấy, trong Phật giáo giảng lục đạo luân hồi; trong lục đạo luân hồi chư vị có thể biến thành thực vật; trong Phật giáo [giảng] như thế. Tại đây chúng tôi không giảng như vậy. Nhưng chúng tôi nói với mọi người, cây cũng là sinh mệnh; không chỉ là sinh mệnh, mà còn có hoạt động tư duy rất cao. Ví dụ có một vị ở Mỹ chuyên làm các nghiên cứu điện tử, dạy người ta dùng máy dò nói dối. Một hôm vị này có hứng khởi bèn tức thời nối hai cực của máy dò nói dối lên một cây ngưu thiệt lan hoa, rồi tưới nước vào chỗ gốc cây hoa, sau đó vị này phát hiện rằng bút điện tử của máy dò nói dối lập tức vẽ một đường cong. Đường cong ấy chính là tương đồng với loại đường cong mà đại não của người ta trong một thời gian ngắn hưng phấn, cao hứng mà sinh ra. Lúc đó vị này sửng sốt, thực vật có cảm tình là sao! Vị ấy dường như muốn chạy ra đường cái mà hô lớn thực vật cũng có cảm tình’. Khởi phát từ sự việc đó, vị ấy mau chóng triển khai nghiên cứu theo phương diện này, đã làm rất nhiều thực nghiệm. Có một lần, vị này đặt hai cái cây với nhau, rồi bảo học sinh của mình dẫm đạp một cái cây trước mặt cái cây kia, dẫm đạp cho chết đi. Sau đó đưa cái cây kia vào phòng, nối vào máy dò nói dối; rồi bảo năm em học sinh lần lượt đi từ ngoài vào. Bốn em học sinh đầu đi vào, không có phản ứng gì cả. Đến khi học sinh thứ năm vốn đã dẫm đạp cây nọ bước vào, thì [em này] còn chưa kịp tiến đến, bút điện tử đã lập tức vẽ nên một đường cong; khi người ta sợ hãi mới có thể vẽ xuất ra đường cong như thế. Vị này kinh ngạc quá! Sự việc ấy đã minh chứng một vấn đề rất lớn chúng ta xưa nay vẫn nhìn nhận rằng con người là sinh mệnh cao cấp, con người có khả năng cảm quan, có thể nhận thức phân biệt, có đại não, có thể phân tích. Còn thực vật cớ chi [có thể] nhận thức phân biệt được, nó không có giác quan kia mà? Trong quá khứ ai mà nói rằng thực vật có cảm quan, có tư duy, có cảm tình, có thể nhận thức được con người, thì người ta bèn nói là mê tín. Mà không chỉ có vậy, về một số phương diện [thực vật] dường như còn vượt trội hơn cả con người chúng ta hôm nay. Có một hôm vị kia nối máy dò nói dối vào một cái cây, sau đó vị ấy nghĩ Làm thí nghiệm nào đây nhỉ? Mình đốt thử cái lá của nó xem, xem xem có phản ứng nào nhé’. Vị ấy vừa suy nghĩ như vậy, chưa có đốt, mà bút điện tử đã mau chóng vẽ ra một đường cong, chính là khi con người kêu cứu mạng mới có thể vẽ ra đường cong như vậy. Công năng siêu cảm loại này, quá khứ gọi là tha tâm thông, là một tiềm năng, bản năng của con người; tuy nhiên nhân loại ngày nay đều đã thoái hoá, chư vị cần phải tu luyện từ đầu, phản bổn quy chân, phản hồi về bản tính tiên thiên của chư vị, thì chư vị mới có thể có được nó. Vậy mà [thực vật] đã có rồi, chư vị nghĩ gì nó liền biết, nghe vậy thật là huyền [hoặc], nhưng đó là những thí nghiệm khoa học hết sức thực tại. Vị này đã làm các thí nghiệm, còn có công năng dao khống từ cự ly xa. Luận văn của vị ấy sau khi công bố ra, toàn thế giới rất chấn động. Các nhà nghiên cứu thực vật tại các quốc gia đều đang triển khai nghiên cứu theo phương diện này, ở nước ta cũng có làm; điều ấy đã không còn là thứ gì mê tín nữa. Hôm rồi tôi đã giảng một câu, rằng những gì phát sinh, phát minh và phát hiện nơi nhân loại chúng ta hôm nay đã đủ để cải biến sách giáo khoa hiện nay của chúng ta rồi. Nhưng do ảnh hưởng của quan niệm truyền thống, người ta không muốn thừa nhận nó, và cũng chưa có ai chỉnh lý một cách có hệ thống những điều ấy. Ở một công viên ở [tỉnh] Đông Bắc, tôi thấy một đám cây tùng đã chết gục. Không biết được một số người kia luyện là luyện thứ gì, lăn lộn khắp đất, lăn lộn xong rồi, chân thu [khí] thế này, tay thu [khí] thế kia, và sau một thời gian không lâu đám cây tùng ấy vàng [úa] rồi chết cả. Chư vị đang làm việc tốt hay xấu đây? Đứng tại góc độ người luyện công chúng ta mà xét, ấy là sát sinh. Chư vị là người luyện công thì chư vị cần phải làm người tốt, dần dần đồng hoá với đặc tính vũ trụ, bỏ những thứ không tốt của mình. Còn nếu đứng tại góc độ người thường mà xét, [đó] cũng không phải làm việc tốt, mà là phá hoại của công, phá hoại cây xanh, phá hoại cân bằng sinh thái; đứng tại góc độ nào mà giảng cũng thấy không phải việc tốt. Khí trong vũ trụ thật là [nhiều], chư vị cứ thu thôi có sao đâu. Có người có năng lượng rất lớn, sau khi luyện đến một tầng nhất định, thì thật sự huơ tay một cái là khí của cả một vùng thực vật lớn lập tức thu được ngay. Nhưng bất quá chỉ là khí, thu nhiều đến mấy thì đã sao? Có người đến công viên không làm điều gì khác, họ nói Tôi không cần luyện công, tôi vừa đi vừa thu [khí] là được rồi, tôi luyện thế là xong rồi. Đắc khí là được rồi.’ Họ tưởng rằng khí là công. Người ta đến gần vị này, cảm thấy thân thể vị ấy ơn ớn lạnh. Khí thực vật ấy chẳng phải âm tính là gì? Người luyện công giảng âm dương cân bằng; thân thể vị ấy toàn là mùi dầu cây tùng, mà vẫn tưởng rằng bản thân mình luyện tốt ghê lắm. Ai luyện công thì đắc công Vấn đề ai luyện công ai đắc công’1 là một vấn đề cực kỳ then chốt. [Khi] người khác hỏi tôi rằng Pháp Luân Đại Pháp có chỗ nào hay, tôi nói rằng Pháp Luân Đại Pháp có thể đạt được công luyện người’, thu ngắn thời gian luyện công; có thể giải quyết vấn đề không có thời gian luyện công, nhưng vẫn được luyện công một cách trường kỳ. Đồng thời chúng ta cũng là công pháp tính mệnh song tu chân chính, sự biến hoá thân thể vật chất này của chúng ta sẽ rất to lớn. Pháp Luân Đại Pháp còn có một chỗ tốt lớn nhất, trước đây tôi chưa từng giảng, chỉ có hôm nay tôi mới giảng xuất lai. Bởi vì nó liên quan đến vấn đề rất to lớn trong lịch sử xa xưa, cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới tu luyện; trong lịch sử từ xưa đến nay chưa có ai dám chỉ ra, và cũng không cho phép họ chỉ ra; nhưng tôi không thể không giảng [điều này]. Có đệ tử nói Mỗi lời của Đại Sư Lý Hồng Chí đều là thiên cơ, là tiết lộ thiên cơ’. Tuy nhiên chúng tôi thật sự đưa người lên cao tầng, chính là độ nhân. Phải chịu trách nhiệm đối với mọi người, có thể gánh chịu trách nhiệm ấy, do đó không phải là tiết lộ thiên cơ. Còn không chịu trách nhiệm mà nói thuyết tuỳ tiện thì chính là tiết lộ thiên cơ. Hôm nay chúng tôi nói ra vấn đề này chính là vấn đề ai luyện công ai đắc công. Theo tôi thấy thì tất cả các công pháp hiện nay, bao gồm cả [công pháp] Phật gia, Đạo gia và Kỳ Môn công pháp từ lịch sử đến nay đều tu luyện phó nguyên thần phó ý thức của người ta, đều là phó nguyên thần đắc công. Chúng tôi ở đây giảng về chủ nguyên thần, chính là tư duy của bản thân mình, tự mình nếu biết rõ mình đang suy nghĩ gì, thực hiện gì, đó chính là bản thân mình thực sự. Còn phó nguyên thần làm những gì thì chư vị hoàn toàn không hay biết. Tuy nó và chư vị đồng thời xuất sinh, gọi bằng cùng một tên, làm chủ một thân thể, lớn lên cùng dạng như nhau; nhưng nói một cách chặt chẽ thì nó không phải chư vị. Trong vũ trụ có [Pháp] lý rằng ai mất thì được, ai luyện công thì đắc công. Các công pháp trong lịch sử đều dạy người ta khi luyện công phải mơ mơ tỉnh tỉnh, không suy nghĩ gì hết, sau đó nhập định thâm sâu, định đến mức rốt cuộc bản thân mình không còn biết gì nữa. Có người đả toạ ba giờ đồng hồ tựa như trong nháy mắt; người khác còn khâm phục định lực của họ. Thực ra họ đã luyện hay chưa luyện? Bản thân họ hoàn toàn không biết. Đặc biệt công pháp Đạo gia giảng thức thần tử nguyên thần sinh’. Thức thần’ mà họ nói chính là chủ nguyên thần’ mà chúng ta đề cập đến; còn nguyên thần’ mà họ nói chính là cái mà chúng ta gọi là phó nguyên thần’.[Nếu] thức thần’ thật của chư vị mà chết, thì chư vị thực sự đã chết rồi, chủ nguyên thần thật sự không còn nữa. Có người luyện công pháp khác nói với tôi Thưa Thầy, khi con luyện công, con không nhận ra ai ở nhà con nữa’. Còn có người nói với tôi Con không giống như người ta luyện công thức khuya dậy sớm, con về nhà ngả lưng một cái, bản thân con liền xuất ra luyện công; con nằm đó xem con xuất ra luyện công’. Tôi thấy rằng như thế thật đáng buồn; nhưng cũng không đáng buồn! Vì sao người ta độ phó nguyên thần? Lã Động Tân có câu Ta thà độ động vật còn hơn độ nhân’. Thực ra con người rất khó ngộ; bởi vì người thường chịu nhận chỗ mê của xã hội người thường, khi lợi ích hiện thực trước mắt liền không vứt bỏ cái tâm ấy được. Chư vị không tin [ư]; có người nghe xong bài giảng ra khỏi lễ đường, liền biến thành người thường; ai gây [sự] với họ, đụng phải họ, họ liền không chịu. Qua một giai đoạn thời gian, hoàn toàn không còn coi bản thân mình là người luyện công nữa. Rất nhiều người tu Đạo trong lịch sử đều thấy rõ điểm này; con người rất khó độ, chính vì chủ nguyên thần của con người mê quá rồi. Có người ngộ tính tốt, [nói] một chút là thấu [hiểu]. Một số người có giảng thế nào họ cũng không tin, họ cho rằng chư vị nói phóng đại. Chúng tôi bảo họ tu luyện tâm tính như thế, nhưng họ hễ đến chốn người thường liền muốn sao làm vậy. Họ cho rằng những lợi ích rất thiết thực, động chạm đến được, đạt được nơi người thường mới là lợi ích thiết thực, còn phải đắc những thứ ấy. Pháp mà Sư phụ giảng, nghe thì thấy có đạo lý, nhưng không thực hiện nổi. Chủ nguyên thần con người khó độ nhất, nhưng phó nguyên thần có thể thấy cảnh tượng không gian khác. Nên người ta nghĩ Ta hà tất phải độ chủ nguyên thần của ngươi, [phó nguyên thần] cũng là ngươi, ta độ nó cũng vậy phải không? Đều là ngươi mà, ai đắc mà chả là đắc, đều là ngươi đắc’. Tôi giảng phương pháp tu luyện cụ thể của họ. Ai có công năng dao thị, có thể thấy một cảnh tượng như thế này chư vị hễ đả toạ, chư vị liền thấy rằng vào đúng tích tắc chư vị định lại được, thì “vèo” một cái từ trong thân thể chư vị xuất ra một chư vị khác giống hệt chư vị. Tuy nhiên chư vị phân biệt được đâu là tự ngã? [Chính là] đang ngồi ở đây thôi. Chư vị thấy rằng sau khi nó xuất ra, sư phụ liền đưa nó đi tu luyện tại một không gian mà sư phụ diễn hoá ra; cũng có thể là hình thức xã hội quá khứ, cũng có thể là hình thức xã hội hiện tại, cũng có thể là hình thức xã hội không gian khác; [sư phụ] dạy nó luyện công; nó chịu khổ không ít, mỗi ngày một, hai giờ đồng hồ. Người ta luyện công xong quay trở về, thì chư vị cũng liền xuất định; đó là [những ai] có thể nhìn thấy được. Nếu [chư vị] không nhìn thấy [được gì] thì càng đáng buồn hơn, chả biết gì cả; mơ mơ màng màng trong hai giờ đồng hồ rồi xuất định. Có người ngủ, ngủ liền một mạch hai ba tiếng đồng hồ; họ tính rằng như thế là luyện công xong; hoàn toàn giao cấp cho người ta. Đó là hoàn thành có tính gián tiếp, mỗi ngày [xếp bằng] đả toạ lâu ngần ấy. Còn có [loại] hoàn thành trong một lần; có thể mọi người đều đã nghe Đạt Ma quay mặt vào vách 9 năm; trong quá khứ có nhiều tăng nhân ngồi liền mấy thập kỷ; lịch sử có chép lâu nhất hơn 90 năm; còn có [vị] lâu hơn, bụi bám dày trên mắt, cỏ mọc khắp thân, mà vẫn còn ngồi tại nơi ấy. Đạo gia cũng giảng điều này, đặc biệt là một số Kỳ Môn công pháp giảng ngủ, ngủ một mạch liền mấy chục năm mới xuất định, không tỉnh. Tuy nhiên ai luyện đây? Phó nguyên thần của họ đã xuất ra và luyện, nếu như họ có thể thấy thì liền nhìn thấy sư phụ mang theo phó nguyên thần đi luyện. Phó nguyên thần cũng nợ nghiệp lực rất lớn, sư phụ không có bản sự tiêu trừ chỗ nghiệp lực ấy. Do đó bảo nó rằng ngươi ở đây luyện công cho tốt, ta đi nơi khác một chuyến, rồi sau sẽ quay lại, ngươi hãy đợi ta. Sư phụ biết rõ chuyện gì sẽ xảy đến, [nhưng] cũng phải làm vậy. Kết quả là ma đến doạ nạt nó, hoá thành mỹ nữ dẫn dụ nó, chuyện gì cũng có. Nhưng rồi thấy rằng nó thật sự không động tâm, bởi vì phó nguyên thần tương đối dễ tu hơn, nó có thể biết được chân tướng. Con ma ấy nóng mắt liền muốn giết nó, để giải hận báo thù, đã thật sự giết nó, lập tức món nợ hoàn trả xong. Bị giết xong phó nguyên thần liền phiêu đãng bay ra, như một làn khói xuất ra. Rồi chuyển sinh, thác sinh vào một gia đình bần cùng. Từ bé đã chịu khổ; đến khi lớn đến lúc có thể hiểu biết được sự việc thì sư phụ đến; tất nhiên nó không nhận ra. Sư phụ dùng công năng khai mở phần tư duy tồn trữ trong nó, lập tức [nó nhớ] nghĩ ra ngay chẳng đúng sư phụ là gì? Sư phụ nói với nó hiện giờ tốt rồi, có thể luyện rồi. Như vậy trải qua bao nhiêu năm, sư phụ đem những điều này khác truyền lại cho nó. Truyền xong sư phụ lại bảo nó ngươi còn rất nhiều tâm chấp trước cần phải bỏ, ngươi hãy trở ra đi vân du. Vân du’ rất khổ, bước đi ngoài xã hội, phải xin ăn, gặp các loại người, giễu cợt nó, nhục mạ nó, khinh nhờn nó, các sự tình đủ loại đều sẽ gặp phải. Nó coi bản thân là người luyện công, dàn xếp tốt quan hệ với người ta, giữ vững tâm tính, không ngừng đề cao tâm tính, những dụ dỗ từ các loại lợi ích nơi người thường đều không làm nó động tâm; trải qua bao nhiêu năm vân du nó quay trở lại. Sư phụ nói Ngươi đã đắc Đạo rồi, viên mãn rồi. Nếu không còn việc gì, thì ngươi trở về chuẩn bị rời đi; nếu còn việc gì, thì ngươi hãy hoàn tất sự việc ấy nơi người thường đi. Như vậy sau bao nhiêu năm, phó ý thức đã trở về; nó vừa trở về, thì bên này chủ nguyên thần cũng liền xuất định, chủ ý thức tỉnh ngủ. Tuy nhiên họ xác thực chưa hề tu luyện, phó nguyên thần của người ta đã tu luyện, do đó phó nguyên thần đắc công. Tuy nhiên chủ nguyên thần cũng khổ, dù sao thì toàn bộ [tuổi] thanh xuân của họ đã ngồi ở nơi ấy rồi, thời gian người thường đã qua đi rồi. Vậy giải quyết sao đây? Họ cảm thấy rằng khi xuất định thì công mà mình luyện đã đến, đã có công năng rồi, họ muốn trị bệnh, muốn làm gì liền có thể làm nấy, phó nguyên thần sẽ làm họ thoả mãn. Bởi vì rốt cuộc thì họ là chủ nguyên thần, chủ nguyên thần làm chủ thân thể, là [người] quyết định. Hơn nữa ở bên này họ đã ngồi đây, một đời đã trôi qua rồi. Đến khi trăm tuổi [lâm chung] thì phó nguyên thần rời đi, [đường] ai nấy đi. Theo Phật giáo giảng, họ vẫn phải nhập lục đạo [luân hồi]. Bởi vì trong thân của họ đã tu xuất một Đại Giác Giả, nên họ đã tích được đại đức, vậy sẽ sao đây? Có thể vào đời tiếp họ sẽ làm quan lớn, phát tài lớn. Cũng chỉ có thể như vậy thôi, đó chẳng phải tu mà như không ư? Sự việc này chúng tôi giảng xuất ra, cũng là phải mất bao nhiêu phí tổn mới được đồng ý giảng. Tôi đã chỉ ra chỗ mê từ thiên cổ, bí mật trong những bí mật tuyệt đối không thể giảng, chỉ ra căn bản của các loại phương pháp tu luyện trong tu luyện lịch sử. Chẳng phải tôi đã giảng rằng [nó] liên quan đến lịch sử uyên nguyên rất thâm sâu hay sao? Chính là nguyên nhân ấy. Chư vị thử nghĩ, hỏi gia nào, môn nào mà không tu luyện như thế? Bản thân chư vị tu tới tu lui mà chư vị không có công, chư vị chẳng đáng buồn lắm ư! Nhưng biết oán ai đây? Con người mê đến mức như thế, không ngộ, điểm hoá thế nào cũng không được. Nói cao thì nghe thấy huyền [hoặc] quá, nói thấp thì ngộ không lên được. Tôi đã thuyết [giảng] thế này, mà còn có người bảo tôi trị bệnh cho họ, tôi thật sự không biết nói sao. Chúng tôi giảng tu luyện, tu luyện lên cao tầng thì [tôi] mới có thể quản. Pháp môn này của chúng tôi là chủ ý thức đắc công; vậy nói là chủ ý thức đắc công liền được chủ ý thức đắc công? Ai cho phép? Không phải thế, nó cần phải có điều kiện tiên quyết. Như mọi người đã biết, pháp môn này của chúng tôi không tránh né xã hội người thường [rồi mới] đi tu luyện, không tránh, không trốn tránh mâu thuẫn; ngay trong hoàn cảnh người thường phức tạp này, chư vị tỉnh táo rõ ràng, hết sức minh bạch chịu thiệt thòi tại các vấn đề lợi ích vật chất; khi bị người khác lấy mất lợi ích thiết thân, chư vị không giống như người ta mà tranh mà đấu; trong các can nhiễu tâm tính, chư vị chịu thiệt thòi; trong hoàn cảnh gian khổ như thế chư vị ma luyện’ ý chí của mình, đề cao tâm tính của mình; khi có ảnh hưởng của các tư tưởng bất hảo của người thường, chư vị có thể siêu thoát xuất lai. Mọi người thử nghĩ xem, [người] chịu khổ một cách minh bạch chẳng đúng là chư vị, [người] phó xuất chẳng đúng là chủ nguyên thần của chư vị, khi mất đi những thứ tại người thường, chẳng phải chư vị chịu mất một cách minh bạch đúng không? Công ấy nên để chư vị được, ai mất thì được. Do đó đây chính là nguyên nhân vì sao pháp môn này của chúng ta, không hề thoát ly hoàn cảnh phức tạp này nơi người thường để thực hành tu luyện. Vì sao chúng ta phải tu luyện trong mâu thuẫn người thường? Bởi vì chúng ta muốn bản thân mình đắc công. Các đệ tử chuyên tu tu luyện tại các chùa trong tương lai cũng phải vân du nơi người thường. Một số người nói các công pháp hiện nay cũng luyện tại người thường thì sao? Nhưng đó chỉ là phổ cập chữa bệnh khoẻ người thôi; tu luyện lên cao tầng một cách chân chính thì ngoài việc đơn truyền ra không có ai truyền công khai hết. [Ai] thật sự đưa đồ đệ [lên cao tầng], đã đưa đồ đệ đi rồi, truyền dạy riêng mà thôi. Trong bao nhiêu năm, ai giảng những thứ ấy cho quần chúng trên diện rộng? Không ai giảng cả. Pháp môn chúng tôi giảng như vậy, bởi vì chúng ta chính là tu luyện như thế, chính là đắc công như thế. Đồng thời không chỉ hàng nghìn hàng vạn thứ [cần] được cấp trong môn này của chúng tôi, đã cấp toàn bộ cho chủ nguyên thần của chư vị, thật sự để bản thân chư vị đắc công. Tôi nói rằng tôi đã làm điều mà người xưa từ trước đến nay chưa từng làm, đã mở cánh cửa [rộng] lớn nhất. Những lời này của tôi có người nghe và hiểu rõ, những điều tôi giảng thật sự không huyền [hoặc] chút nào. Cá nhân tôi có thói quen, nếu tôi có một trượng, [thì] tôi chỉ nói một thước, mà chư vị đã cho rằng tôi thổi phồng lên quá. Thực ra đó mới chỉ nói một chút đó thôi; vì sự chênh lệch quá lớn về tầng nên Đại Pháp cao thâm hơn nữa tôi không thể giảng chút gì cho chư vị. Pháp môn này của chúng tôi tu luyện đúng là như thế, để chính bản thân chư vị thật sự đắc công; đây là lần đầu tiên từ khi khai thiên tịch địa; chư vị có thể tra lại trong lịch sử. [Nó] rất tốt là bản thân chư vị đắc công, nhưng cũng rất khó khăn. Tại hoàn cảnh phức tạp nơi người thường, trong ma sát giữa người với người, chư vị có thể thực sự vượt lên, ấy là điều khó khăn nhất. Khó là khó ở chỗ chư vị chịu thiệt thòi một cách minh bạch rõ ràng nơi lợi ích người thường, với lợi ích thiết thân [bày] trước mắt, chư vị có bất động tâm hay không; khi đấu tranh lục đục giữa người với người, chư vị có bất động tâm hay không; khi bạn bè thân quyến gặp chuyện thống khổ, chư vị có bất động tâm hay không, chư vị nhìn nhận sự việc như thế nào đây; làm người luyện công khó khăn như vậy đấy! Có một người nói với tôi Thưa Sư phụ, làm người tốt nơi người thường là được rồi, ai tu nổi lên trên được chứ?’ Tôi nghe thấy thật thương tâm! Và không nói gì với vị ấy cả. Tâm tính các dạng đều có, họ có thể ngộ cao đến đâu thì ngộ cao đến đó; ai ngộ ra thì người ấy đắc được. Lão Tử đã nói Đạo, khả Đạo, phi thường Đạo’. Như thế [cái gì] có nhiều đầy đất nhặt lên là tu thành ngay, thì nó không trân quý. Pháp môn này của chúng tôi cho phép chư vị đắc công trong mâu thuẫn; do đó chúng ta phải phù hợp tối đa với người thường, còn về vật chất cũng không thật sự để chư vị mất mát gì cả. Tuy nhiên trong hoàn cảnh vật chất ấy chư vị phải đề cao tâm tính. Thuận tiện cũng là thuận tiện ở chỗ này, pháp môn chúng tôi là thuận tiện nhất, có thể tu luyện nơi người thường, không cần xuất gia. Và khó nhất cũng chính là khó ở chỗ này, tu luyện trong hoàn cảnh người thường phức tạp nhất. Nhưng [điểm] tốt nhất chính là tốt ở chỗ này, bởi vì nó cho phép [chính] bản thân chư vị đắc công; đây là điểm then chốt bậc nhất nơi pháp môn này của chúng ta, hôm nay tôi đã giảng rõ cho mọi người. Tất nhiên, [khi] chủ nguyên thần đắc công, [thì] phó nguyên thần cũng đắc công; tại sao? Hết thảy các tín tức, hết thảy các linh thể của thân thể chư vị và các tế bào của chư vị đều tăng công, thì tất nhiên [phó nguyên thần] cũng tăng công. Tuy nhiên lúc nào nó cũng không cao bằng chư vị; chư vị là Chủ, nó là hộ Pháp. Giảng đến đây, tôi còn muốn nói một câu. Trong giới tu luyện chúng ta có không ít người như thế này luôn luôn mong muốn tu luyện lên cao tầng. Đi khắp nơi cầu Pháp, tiêu tốn không ít tiền, núi Nam bể Bắc đều đã tới, đi tìm danh sư mà không gặp. Có danh tiếng không nhất định là có minh bạch. Kết quả phí công chu du các nơi, mệt thân tốn tiền, không đắc được gì cả. Công pháp tốt như thế này, hôm nay chúng tôi đã cấp cho chư vị, chúng tôi đã bưng đến tận nơi cho chư vị, đặt đến cổng nhà cho chư vị. Chính là để xem chư vị có thể tu được hay không, có thể hành được hay không. Nếu chư vị có thể [thực] hành được, thì chư vị tu; còn nếu chư vị không hành được, nếu chư vị không tu được, thì từ giờ trở đi chư vị chớ nghĩ đến tu luyện nữa. Ngoại trừ ma lừa đảo chư vị ra sẽ không ai dạy chư vị nữa; từ nay trở đi chư vị đừng tu nữa. Nếu tôi không độ được chư vị, thì không ai độ chư vị được đâu. Thực ra hiện nay muốn tìm sư phụ chính Pháp chân chính để dạy chư vị, còn khó hơn lên trời; hoàn toàn không còn ai quản nữa. Vào thời kỳ mạt Pháp, tại tầng rất cao đang ở trong mạt kiếp, càng không thể quản người thường được nữa. Đây là pháp môn thuận tiện nhất rồi, hơn nữa tu luyện trực tiếp chiểu theo đặc tính vũ trụ, tu nhanh nhất tắt nhất rồi, trực chỉ nhân tâm. Chu thiên Trong Đạo gia giảng đại chu thiên tiểu chu thiên; chúng tôi sẽ giảng một chút chu thiên là gì. Chu thiên mà chúng ta bình thường nói đến là nối vòng hai mạch nhâm đốc [mà thành], chu thiên ấy chỉ là chu thiên vỏ ngoài nông cạn, không đáng kể gì cả, chỉ là thứ chữa bệnh khoẻ người thôi; gọi là tiểu chu thiên. Còn một loại chu thiên nữa, không gọi là tiểu chu thiên cũng không gọi là đại chu thiên, [nó] là hình thức chu thiên tu luyện trong thiền định. Nó từ trong thân thể, từ nê hoàn chạy quanh một vòng rồi đi xuống, ở trong thân thể cho đến đan điền chuyển quanh một vòng rồi đi lên; tuần hoàn nội tại; đó là chu thiên chân chính tu luyện khi thiền định. Sau khi chu thiên loại này hình thành rồi cũng sẽ hình thành một dòng năng lượng rất mạnh mẽ, sau đó nhất mạch đới bách mạch’, làm cho các mạch khác đều khai mở theo. Đạo gia giảng chu thiên, Phật giáo không giảng chu thiên. Phật giáo giảng điều gì? Khi Thích Ca Mâu Ni truyền bộ Pháp của mình đã không giảng công, không hề giảng công; tuy nhiên công Pháp của Ông cũng có hình thức diễn hoá [trong] tu luyện. Mạch trong Phật giáo chạy theo hướng nào? Bắt đầu từ huyệt bách hội bên trên thông thấu, sau đó phát triển từ đỉnh đầu xuống thân thể theo hình xoáy ốc, rốt cuộc cũng là thông qua hình thức ấy làm cho trăm mạch khai mở theo. Trung mạch’ trong Mật tông cũng có mục đích ấy. Có người nói rằng không có trung mạch; vậy tại sao Mật tông có thể tu luyện xuất ra trung mạch? Thực ra tất cả các mạch trên thân thể gộp hết cả lại, có trên vạn mạch, tương tự như huyết quản ngang dọc nối vào nhau; còn có nhiều hơn cả huyết quản. Các chỗ trống của nội tạng không có huyết quản, nhưng [vẫn] có mạch. Từ đỉnh đầu cho đến các vị trí trong thân thể cũng có các mạch lạc2 ngang dọc giao nhau, tiếp nối tất cả chúng gộp lại, ban đầu có thể là không thẳng, liên kết lại đả thông. Sau đó dần dần nới rộng ra, dần dần hình thành một mạch thẳng. Lấy mạch ấy làm cái trục tự [xoay] chuyển, kéo theo một số bánh xe trong ý niệm xoay chuyển theo chiều ngang; mục đích cũng là làm tất cả các mạch trong thân thể kéo theo khai mở toàn bộ. Tu luyện Pháp Luân Đại Pháp chúng ta tránh hình thức nhất mạch đới bách mạch’ ấy; ngay lập tức yêu cầu trăm mạch đồng thời khai mở, trăm mạch đồng thời vận chuyển. Chúng ta ngay lập tức đứng tại tầng rất cao luyện [công], tránh những thứ tại [tầng] rất thấp. [Nếu theo cách] nhất mạch đới bách mạch, chư vị nếu muốn khai mở tất cả, thì có người luyện cả một đời vẫn còn khó đạt; có người phải tu luyện cả mấy chục năm, rất khó khăn. Trong rất nhiều công pháp giảng rằng một đời vẫn chưa tu thành được, có nhiều người tu luyện trong các Đại Pháp cao thâm có thể kéo dài thọ mệnh; chẳng phải họ giảng tu mệnh là gì? Có thể kéo dài thọ mệnh mà tu luyện, tu liên tục thời gian rất lâu dài. Về cơ bản tiểu chu thiên chỉ là chữa bệnh khoẻ người, còn đại chu thiên chính là luyện công, đã là tu luyện chân chính rồi. Đại chu thiên mà Đạo gia nói đến không mạnh mẽ như của chúng ta, trăm mạch toàn bộ đánh thông hết. Của họ là một số mạch vận chuyển, ba mạch âm ba mạch dương nơi tay, dưới chân, hai bắp chân đến đầu [tóc], chạy khắp thân thể một lượt, vậy được tính là vòng tuần hoàn đại chu thiên. Hễ đại chu thiên bắt đầu [chuyển] là luyện công thật sự rồi đó, do vậy một số khí công sư không truyền [dạy] đại chu thiên; điều họ truyền chỉ là những điều chữa bệnh khoẻ người thôi. Một số người cũng giảng về đại chu thiên, nhưng họ không cài gì cho chư vị, chư vị tự mình không đánh thông ra được. Không cài gì cả, bản thân dựa vào ý niệm muốn khai mở, nói sao dễ vậy! Chỉ giống như tập thể thao, liệu có thể khai mở được không? Tu tại tự kỷ, công tại sư phụ, những “cơ chế” nội tại cấp hết rồi cài cho chư vị thì mới có thể có tác dụng như vậy. Xưa nay Đạo gia vẫn coi thân thể con người là tiểu vũ trụ, họ cho rằng vũ trụ bên ngoài lớn ngần nào, thì bên trong lớn ngần ấy, bên ngoài như thế nào, thì bên trong như thế ấy. Điều này giảng ra thật khó tin quá, không dễ mà lý giải cho được. Vũ trụ này to lớn nhường ấy, đem so sánh với thân thể người là sao? Chúng tôi giảng đạo lý này vật lý học chúng ta hiện nay nghiên cứu các thành phần vật chất, từ phân tử, nguyên tử, điện tử, proton, quark cho đến neutrino; nhưng [kích thước] xuống đến dưới nữa thì thế nào? [Mới] đến đó mà kính hiển vi đã không thấy được rồi, xuống nữa cho đến vi lạp nhỏ nhất là gì? Không biết. Thực ra một chút xíu mà vật lý học hiện nay chúng ta hiểu biết được còn xa lắm lắm mới đến được vi lạp nhỏ nhất của vũ trụ. Lúc con người không mang tròng mắt thịt này, thì con mắt của người ta nhìn mọi thứ có thể có tác dụng phóng đại, có thể thấy được [mức] vi quan. Tầng càng cao, thì nhìn thấy được vi quan càng lớn hơn. Thích Ca Mâu Ni tại tầng ấy, Ông đã giảng học thuyết tam thiên đại thiên thế giới, tức là trong hệ Ngân Hà này, cũng tồn tại những người có sắc thân giống như nhân loại chúng ta. [Ông] còn giảng học thuyết rằng một hạt cát cũng bao hàm tam thiên đại thiên thế giới, [điều ấy] phù hợp với nhận thức của vật lý học chúng ta hiện nay. Hình thức chuyển động của điện tử xoay quanh hạt nhân nguyên tử và Trái Đất chuyển động xoay quanh Mặt Trời có gì khác nhau? Do đó Thích Ca Mâu Ni đã giảng, rằng tại mức vi quan, trong một hạt cát có tam thiên đại thiên thế giới, nó cũng tương tự như một vũ trụ này, trong đó có sinh mệnh có vật chất. Nếu như đó là lời chân thật, mọi người thử nghĩ xem thế giới bên trong hạt cát ấy lại có hạt cát nữa phải không, như thế hạt cát ở bên trong hạt cát ấy lại cũng có tam thiên đại thiên thế giới có phải không? Như vậy thế giới bên trong hạt cát ở bên trong hạt cát ấy cũng lại có hạt cát nữa phải không? Cứ truy mãi xuống như thế thì vô cùng vô tận. Do đó Thích Ca Mâu Ni đạt đến tầng Như Lai như vậy, Ông đã giảng một câu như thế này “Kỳ đại vô ngoại, kỳ tiểu vô nội”. Đại, không thấy được biên của vũ trụ; tiểu, không thấy được vật chất bản nguyên nhỏ bé nhất rốt ráo là gì. Có khí công sư giảng trong lỗ chân lông có thành phố, trong đó có xe lửa, xe hơi đang chạy. Nghe vậy huyền [hoặc] lắm; tuy nhiên chúng ta đứng tại góc độ khoa học mà thực sự lý giải, mà nghiên cứu, thì phát hiện rằng nói như thế không có gì là huyền [hoặc] cả. Hôm rồi khi tôi giảng khai [mở] thiên mục, có rất nhiều người khai mở thiên mục rồi thấy cảnh tượng thế này họ phát hiện rằng cứ chạy mãi trong đường thông trong trán của mình, như thể là chạy mãi không đến đầu [bên kia]. Mỗi ngày luyện công đều chạy ra theo con đường lớn ấy, hai bên có non có nước, khi chạy còn qua những thành phố, còn thấy rất nhiều rất nhiều người, họ thấy rằng đó là ảo giác. Đó là chuyện gì vậy? Nhìn thấy rất rõ ràng, không phải ảo giác. Tôi giảng rằng tại mức vi quan nếu thân thể con người thực sự to lớn đến thế, thì đó không phải là ảo giác. Bởi vì Đạo gia luyện công xưa nay vẫn nhìn nhận rằng thân thể con người là một tiểu vũ trụ, nếu như đúng nó là một vũ trụ, thì từ thể tùng quả cho đến trán không chỉ là mười vạn tám nghìn dặm; chư vị [vẫn] chạy mãi ra, rất xa vậy. Nếu như trong quá trình tu luyện đánh thông toàn bộ đại chu thiên xong, thì sẽ dẫn đến cho người tu luyện một loại công năng; công năng gì? Mọi người đã biết, đại chu thiên cũng được gọi là tý ngọ chu thiên’, cũng được gọi là càn khôn vận chuyển’, cũng được gọi là hà xa vận chuyển’. Tại một tầng rất nông, sự vận chuyển của đại chu thiên hình thành một dòng năng lượng, nó sẽ dần dần gia tăng mật độ và chuyển hoá hướng lên tầng cao hơn, sẽ trở thành vành đai năng lượng có mật độ rất cao. Đai năng lượng này nó vận chuyển, trong quá trình vận chuyển, chúng tôi tại một tầng cực nông dùng thiên mục mà nhìn, thì phát hiện rằng nó có thể hoán vị khí ở bên trong thân thể khí ở tim chạy sang ruột, khí ở gan chạy sang dạ dày … nếu như có thể thấy thì ở mức vi quan nó đang vận chuyển những thứ rất to lớn; nếu như đưa đai năng lượng ấy ra ngoài [thân] thể thì đó chính là công năng ban vận’. Người có công rất mạnh thì có thể vận chuyển những thứ rất lớn, tức là đại ban vận’. Người có công rất yếu có thể vận chuyển những thứ rất nhỏ, tức là tiểu ban vận’. Đây là hình thức của ban vận công’ và sự hình thành của nó. Đại chu thiên [liên hệ] trực tiếp đến luyện công, do đó sẽ dẫn đến các trạng thái khác nhau và hình thức của công [khác nhau]; nó cũng đưa đến cho chúng ta một trạng thái rất đặc thù. Trạng thái gì? Mọi người có thể đã [xem] trong các cuốn cổ thư như Thần tiên truyện» hoặc Đan Kinh», Đạo tạng», Tính mệnh khuê chỉ» đều thấy viết về một câu là “bạch nhật phi thăng”, tức là ban ngày sáng tỏ người kia bay lên. Thực ra tôi nói với mọi người, hễ đại chu thiên [khai] thông một cái là cá nhân ấy có thể [bay] lên không trung, đơn giản vậy thôi. Có người nghĩ luyện công bao nhiêu năm như thế, số người thông đại chu thiên không phải ít. Tôi nói rằng cũng không có gì là lạ nếu có hàng vạn người đã đạt đến trình độ ấy, bởi vì đại chu thiên [khai thông] rốt cuộc cũng chỉ là bước đầu trong luyện công mà thôi. Như thế tại sao không thấy những vị ấy phiêu [đãng bay] lên? Không thấy họ trên không trung? Trạng thái của xã hội người thường không thể bị phá hoại, không thể tuỳ tiện phá hoại hoặc cải biến hình thức trạng thái xã hội người thường; con người cứ lơ lửng hết ở trên không có được không? Đó có còn là xã hội người thường không? Đó là mặt chủ yếu; một mặt khác, con người trong xã hội người thường không phải vì để làm người, mà vì để phản bổn quy chân, do đó còn có vấn đề ngộ tính. Họ thấy có nhiều người rõ ràng thực sự có thể bay lên, thì họ cũng đi tu, tức là không tồn tại vấn đề ngộ tính nữa. Do vậy nếu chư vị tu hành [được như thế] rồi, cũng không thể tuỳ tiện để người ta thấy, không được phép thị hiện cho người ta thấy, người ta còn phải tu. Do đó đại chu thiên thông rồi, chỉ cần đầu ngón tay, đầu ngón chân hoặc chỗ nào đó của chư vị bị khoá lại, thì chư vị không bay lên được. Thông thường khi chúng ta sắp thông đại chu thiên, sẽ xuất hiện một trạng thái này, có người khi ngồi đả toạ thân thể cứ ngả về phía trước. Đó là vì phía lưng thông được tốt, [phía] lưng rất nhẹ nhàng, phía trước cảm thấy nặng; có người ngả về sau, chính là phía lưng thì nặng, phía trước thì nhẹ. Nếu như chư vị thật sự thông tốt được toàn bộ rồi, như thế chư vị sẽ xóc cất lên, cảm thấy như tự mình có thể nâng [người] lên, có cảm giác rời khỏi mặt đất. Một khi thật sự có thể [bay] lên, thì sẽ không cho phép chư vị [bay] lên; tuy nhiên cũng không tuyệt đối. Xuất [hiện] công năng [thường] ở hai đầu, trẻ em không có chấp trước, người già, nhất là các cụ bà không có tâm chấp trước, dễ xuất hiện công năng, dễ bảo trì. Nam giới, đặc biệt là nam thanh niên, đến khi họ có công năng, họ không tránh được tâm lý hiển thị; đồng thời họ có thể lấy đó làm một thứ công cụ cạnh tranh nơi người thường. Không cho phép tồn tại như thế. Luyện xuất được rồi thì cũng phải khoá kín nó lại. Khoá kín một chỗ nào đó, thì người ấy không bay lên được. Nói vậy cũng không tuyệt đối là không cho phép chư vị xuất hiện trạng thái ấy, có thể cho phép chư vị thử một chút, có một số người có thể bảo trì [trạng thái] như vậy. Lớp học tại các nơi đều có tình huống như thế. Hồi tôi dạy lớp ở Sơn Đông, trong các học viên ở Tế Nam, các học viên ở Bắc Kinh cũng có; có vị nói Bạch Sư phụ, con thế nào ấy, đi đường cứ như thể rời khỏi mặt đất, nằm ngủ ở nhà cũng bay lên, ngay cả chăn đắp cũng bay lên, cứ bay lên như khí cầu vậy’. Hồi tôi dạy lớp ở Quý Dương, có một học viên cao tuổi tại Quý Châu, một cụ bà, ở nhà bà có hai chiếc giường, mỗi bên tường một chiếc. Bà ngồi đả toạ trên giường, rồi cụ bà thấy tự mình bay bổng lên, bà mở to mắt thấy rằng [mình] đã bay sang chiếc giường kia; cụ bà liền nghĩ Mình phải trở lại chứ’, liền bay trở lại. Có một học viên ở Thanh Đảo, giờ nghỉ trưa trong phòng không có ai, ông ngồi trên giường đả toạ, ông vừa đả toạ liền bay lên, bay lên xóc rất ghê, lên cao một mét. Lên cao rồi lại rớt xuống, nẩy lên nẩy xuống tưng tưng, làm cả chăn đắp cũng rớt xuống đất. Vừa có phần hưng phấn, vừa có phần sợ hãi, rung xóc lên xuống trong suốt cả buổi trưa. Cuối cùng chuông công sở đổ, [ông] nghĩ Không thể để người ta thấy được, như thế để làm gì, lập tức dừng lại thôi’. Thế là thôi. Đó là tại sao những người già có thể giữ [tâm tính] được vững vàng. Nếu là thanh niên, tới khi có tiếng chuông công sở Đến đây [cả] đi, tôi bay lên đây này’. Đây là chỗ mà ai không dễ dàng giữ vững tâm hiển thị của mình Coi tôi luyện công tốt chưa, tôi có thể bay lên được’. Một khi họ hiển thị thì sẽ mất, không cho phép tồn tại như vậy. Sự việc như thế rất nhiều, học viên ở các nơi đều có [hiện tượng này]. Chúng ta cần lập tức trăm mạch đều khai [thông]. Mới đến hôm nay thì 80 đến 90% trong chúng ta bây giờ đã đạt trạng thái thân [thể] nhẹ nhàng, không có bệnh. Đồng thời chúng tôi đã giảng ở trên lớp này không chỉ đẩy chư vị lên trạng thái như vậy, để thân thể chư vị hoàn toàn tịnh hoá, mà còn cài vào trong thân thể chư vị rất nhiều thứ, sao cho từ sau buổi học này chư vị có thể xuất công, như thế tương đương với việc tôi nâng chư vị lên và đưa về phía trước. Tôi đã liên tục giảng Pháp cho chư vị, tâm tính của chư vị đã liên tục phát sinh cải biến. Chúng ta có khá nhiều người sau khi ra khỏi giảng đường, chư vị sẽ cảm thấy như một người khác, đảm bảo rằng thế giới quan của chư vị sẽ có chuyển biến, chư vị biết được tương lai chư vị sẽ làm người như thế nào, không còn mơ hồ nữa; đảm bảo là như vậy, do đó tâm tính của chúng ta sẽ lên theo [kịp]. Bàn về đại chu thiên, tuy rằng không cho phép chư vị phiêu [đãng bay] lên, nhưng chư vị sẽ cảm thấy thân nhẹ nhàng, như đi trên gió vậy. Trước đây đi mấy bước là mệt, hiện nay đi [bộ] xa mấy cũng cảm thấy rất nhẹ nhàng, đạp xe đạp cảm thấy như có người đẩy, leo bậc thang cao mấy cũng không mệt; đảm bảo sẽ như vậy. [Ai] đọc sách này tự tu cũng có thể đạt đến trạng thái đáng có được giống như thế. Cá nhân tôi có thể không nói những gì tôi không muốn nói, nhưng lời mà tôi nói ra phải là lời chân thật. Đặc biệt trong tình huống như thế này, trong khi tôi giảng Pháp nếu mà tôi không nói lời chân thật, ngồi ở đây nói những lời huyền thoại, ở đây không mục tiêu tuỳ tiện loạn giảng, thì tôi chính là đang truyền tà pháp. Tôi thực thi công việc này cũng không hề dễ dàng gì, trong vũ trụ đều đang theo dõi, chư vị mà đi sai lệch là không được. Người bình thường biết đến chu thiên như vậy là hết; thực ra như vậy vẫn chưa [đủ]. Muốn đạt đến thân thể được vật chất cao năng lượng hoàn toàn thay thế và chuyển hoá mau lẹ nhất [có thể], còn có một vận chuyển có hướng với hình thức chu thiên, kéo theo tất cả các mạch của thân thể chư vị vận chuyển theo hướng; nó gọi là mão dậu chu thiên’; có thể có một số rất ít người biết đến. Trong sách cũng có lúc đề cập đến danh từ này, nhưng không ai giảng đến nó cả, không nói cho chư vị [biết]. Đều chỉ loanh quanh nơi lý luận; [vì] đây là bí mật của những bí mật. Tại đây chúng tôi nói rõ hết cho chư vị có thể bắt đầu từ huyệt bách hội cũng có thể xuất phát từ huyệt hội âm, chạy dọc theo chỗ giao giới của hai mặt âm dương, qua biên của tai đi xuống, rồi theo vai đi xuống. Chạy men theo từng ngón tay từng kẽ ngón tay. Sau đó chạy theo một bên thân thể, đi xuống bàn chân, rồi lên trên háng. Rồi lại xuống phía bên kia, lại xuống đến [bàn] chân, lên theo phía bên thân thể. Chạy men theo từng ngón tay từng ngón tay, đi trọn một vòng là quay về đến đỉnh đầu; đó là mão dậu chu thiên. Người ta có thể viết cả một cuốn sách, tôi chỉ nói mấy lời ấy là đủ. Tôi cho rằng nó không có gì đáng kể là thiên cơ nào cả, nhưng người khác có thể cho rằng nó là rất trân quý, hoàn toàn không giảng; là đồ đệ chân truyền mới giảng về mão dậu chu thiên. Tuy rằng tôi đã giảng rõ ra, nhưng không ai được dùng ý niệm dẫn đạo và khống chế để luyện, chư vị mà luyện thì không còn [thuộc về] Pháp Luân Đại Pháp của chúng tôi nữa. Tu luyện lên cao tầng một cách chân chính là vô vi, không có hoạt động ý niệm nào hết; toàn bộ đã cấp hết cho chư vị [những gì] hình thành cả rồi. Chúng đều tự động hình thành, những cơ [chế] nội tại ấy đang diễn luyện chư vị; đến thời thì chúng sẽ tự chuyển. Một hôm khi chư vị luyện công sẽ lắc đầu; nếu đầu lắc sang bên này, thì nó chuyển thế này; nếu đầu lắc sang bên kia, thì là chuyển thế kia; cần chuyển cả hai bên. Đại chu thiên, tiểu chu thiên thông rồi, thì khi ngồi đả toạ sẽ gật đầu; đó là hiện tượng năng lượng thông qua. Pháp Luân chu thiên pháp’ mà chúng ta luyện cũng giống như thế, chúng ta sẽ luyện như thế; thực ra khi chư vị không luyện nó [vẫn] tự chuyển. Bình thường vĩnh viễn [vận] chuyển mãi; lúc chư vị luyện là để gia cường những [khí] cơ ấy. Chúng tôi vẫn giảng Pháp luyện người’ phải không? Chư vị [sẽ] phát hiện rằng lúc bình thường thì chu thiên ấy vẫn liên tục tuần hoàn; [lúc] chư vị không luyện, thì khí cơ được gắn ở bên ngoài, tức là một tầng các mạch lớn bên ngoài đang kéo thân thể chư vị luyện theo, đều là tự động. Nó cũng [vận] chuyển ngược lại, [vận] chuyển cả hai chiều xuôi ngược, vào mọi thời khắc đều đang thông mạch cho chư vị. Như vậy mục đích thông chu thiên là gì? Bản thân việc thông chu thiên không phải là mục đích luyện công. Chư vị thông chu thiên rồi, tôi nói vẫn không là gì cả. Vẫn còn tu tiếp nữa; mục đích là thông qua hình thức chu thiên nhất mạch đới bách mạch’, để làm cho các mạch của thân thể, tất cả các mạch toàn bộ khai [mở]. Chúng ta đã đang làm công việc ấy rồi. Luyện tiếp nữa, có người khi đại chu thiên đang chạy liền phát hiện rằng, mạch luyện được rất rộng, giống như đầu ngón tay, bên trong rất rộng. Bởi vì năng lượng cũng rất mạnh mẽ, nên dòng năng lượng sau khi hình thành rồi cũng sẽ rất rộng, nó cũng rất sáng. Như thế vẫn chưa gì đáng kể; hỏi [cần] luyện đến mức độ nào? Cần làm cho bách mạch của thân thể người ta dần dần rộng ra, năng lượng càng ngày càng mạnh, trở nên càng ngày càng sáng. Cuối cùng làm cho hơn vạn mạch liên [kết] thành một khối, đạt đến một cảnh giới không mạch không huyệt, toàn bộ thân thể liên [kết] lại thành một khối; ấy là khi đã đạt được mục đích cuối cùng của việc thông mạch. Mục đích của nó là làm cho toàn bộ thân thể được chuyển hoá [thành] vật chất cao năng lượng. Khi luyện đến bước này, thân thể người ta cơ bản đã được chuyển hoá [thành] vật chất cao năng lượng; tức là luyện lên đến tầng tối cao trong tu luyện thế gian pháp, nhục thân của [thân] thể người ta đã tu luyện đến đỉnh điểm nhất rồi. Khi đã đến bước này, cũng sẽ đưa đến cho họ một trạng thái; trạng thái nào vậy? Công của họ đã xuất ra vô cùng phong phú. Tất cả các công năng đặc dị tiềm năng của người ta [khi] tu luyện thân thể người thường, tức là trong quá trình tu luyện thế gian pháp, tất cả mọi thứ đều xuất lai; tuy nhiên [khi] tu [luyện] trong người thường thì đại bộ phận đều bị khoá lại. Ngoài ra công trụ của họ đã vươn lên rất cao, hết thảy các hình thức của công, đều đã được công mạnh mẽ gia trì đến mức rất mạnh. Nhưng chúng chỉ có tác dụng tại không gian hiện hữu này của chúng ta, chứ không thể ước chế các không gian khác, bởi vì chúng chỉ là công năng được luyện ra từ nhục thể người thường chúng ta. Tuy nhiên [chúng] đã rất phong phú. Tại các hình thức tồn tại của thân thể ở trong từng không gian, [ở] những không gian khác nhau, đều đã có biến đổi khá to lớn. Những thứ được mang theo thân thể, những thứ tại mỗi tầng được mang theo thân thể đều đã rất phong phú, trông cũng rất ghê gớm. Có người khắp thân thể đều là những con mắt, các lỗ chân lông ở khắp thân [thể] đều là con mắt, trong phạm vi khắp cả trường không gian của vị ấy đều có con mắt. Vì đây là công [pháp] Phật gia, nên có người khắp thân thể đầy những hình tượng Bồ Tát, Phật. Các hình thái các loại công đều đã đạt đến mức độ cực kỳ phong phú; ngoài ra còn có rất nhiều các sinh mệnh thể đã hiển hiện xuất lai. Khi [đạt] đến bước này, thì nó còn xuất hiện một trạng thái, gọi là “tam hoa tụ đỉnh”. Đây là một trạng thái hết sức [rõ ràng] minh hiển, hết sức dễ thấy; người có thiên mục ở tầng không cao cũng có thể nhìn thấy được. Trên đầu có ba đoá hoa, [trong ấy] một đoá là hoa sen, nhưng không phải là hoa sen trong không gian vật chất này của chúng ta1; còn có hai đoá [hoa] nữa cũng là hoa ở không gian khác, mỹ diệu khôn cùng. Ba đoá hoa luân phiên [xoay] chuyển trên đỉnh đầu, [xoay] chuyển xuôi, [xoay] chuyển ngược; ba đoá hoa cũng tự [xoay] chuyển. Mỗi đoá hoa có một cột trụ, to bằng đường kính của hoa. Ba chiếc cột trụ lớn ấy thông thẳng lên đỉnh trời, nhưng đó không phải là công trụ; chúng có hình thức như thế; huyền diệu phi thường; [khi] bản thân chư vị nhìn thấy cũng sẽ giật mình kinh sợ. Lúc tu luyện đến bước này, thân thể rất trắng rất tịnh, da dẻ cũng rất mềm. Khi đã đến bước này, thì cũng là đã đến hình thức cao nhất trong tu luyện thế gian pháp. Nhưng đây chưa phải đỉnh điểm, còn cần tu tiếp nữa, cần tiến tiếp lên nữa. Tiến tiếp lên nữa, là tiến nhập vào tầng quá độ giữa thế gian pháp và xuất thế gian pháp, gọi là trạng thái tịnh bạch thể’ cũng gọi là tinh bạch thể’. Bởi vì thân thể tu luyện đến hình thức cao nhất trong thế gian pháp, cũng bất quá chỉ là nhục thân đã chuyển hoá đến hình thức cao nhất. Khi thật sự tiến nhập vào hình thức ấy, thì toàn bộ thân thể đã hoàn toàn được cấu thành từ vật chất cao năng lượng rồi. Vì sao gọi là tịnh bạch thể? Là vì nó đã đạt đến thuần tịnh cao độ ở mức tuyệt đối rồi. Dùng thiên mục mà nhìn, thì toàn bộ thân thể là trong suốt, giống như pha lê trong suốt, nhìn vào không thấy gì cả; sẽ thể hiện ra trạng thái như thế; nói thẳng ra, nó đã là Phật thể rồi. Bởi vì thân thể cấu thành từ vật chất cao năng lượng ấy đã khác với thân thể bản thể của chúng ta. Khi đến bước này, thì hết thảy những công năng và những thứ thuật loại đã xuất hiện trên thân thể sẽ lập tức phải toàn bộ vứt bỏ xuống, gỡ chúng xuống cho vào một không gian rất thâm sâu; [chúng] không còn [tác] dụng gì nữa, từ đó trở đi là vô dụng. Chỉ bất quá vào một hôm nào đó sau này khi chư vị đã tu thành đắc Đạo rồi, chư vị quay đầu xem xem quá trình tu luyện của mình, bèn lấy chúng ra xem xem một chút. Lúc này chỉ có hai thứ tồn tại công trụ vẫn còn, nguyên anh tu luyện được cũng đã trở nên rất lớn. Tuy nhiên hai thứ ấy đều ở một không gian rất thâm sâu, người bình thường thiên mục không cao sẽ không nhìn thấy được, họ chỉ thấy được thân thể cá nhân ấy là một [thân] thể trong suốt. Bởi vì trạng thái tịnh bạch thể là tầng quá độ, khi tu luyện tiếp nữa, thì thật sự đã tiến nhập sang tu luyện xuất thế gian pháp, cũng gọi là tu luyện Phật thể’. Toàn bộ thân thể là do công cấu thành; khi ấy tâm tính người ta đã ổn định rồi. Bắt đầu tu luyện lại từ đầu, công năng bắt đầu xuất hiện lại từ đầu; cũng không gọi là công năng nữa, [mà] gọi là “Phật Pháp thần thông”, chúng ước chế tất cả các không gian, uy lực vô tỷ. Tương lai thuận theo việc bản thân chư vị không ngừng tu luyện, thì [về] những thứ ở tầng cao hơn nữa, tự [chư vị] sẽ biết được tu luyện như thế nào và hình thức tồn tại của tu luyện. Tâm hoan hỷ [Chúng ta] nói về vấn đề này, đó cũng thuộc về tâm hoan hỷ’. Rất nhiều người đã trải qua luyện công lâu [năm], cũng có người chưa từng luyện công, nhưng họ đang tìm kiếm những chân lý và ý nghĩa nhân sinh vốn đã truy cầu cả một đời của mình. Đến khi học Pháp Luân Đại Pháp của chúng tôi, họ liền lập tức hiểu rõ ra rất nhiều vấn đề mà cả đời họ mong muốn biết rõ nhưng lại không giải được. Tuy nhiên cùng với sự thăng hoa tư tưởng của họ, thì tâm tình của họ cũng vô cùng kích động; điểm này là khẳng định. Tôi hiểu rằng, những ai tu luyện chân chính sẽ biết sức nặng của nó, họ sẽ biết trân quý [nó]. Nhưng thường hay xuất hiện vấn đề như thế này vì sự cao hứng của con người, nảy sinh ra tâm hoan hỷ không cần thiết, cho nên họ có biểu hiện thất thường trên hình thức trong những giao tiếp giữa người với người nơi xã hội người thường, trong hoàn cảnh xã hội người thường; tôi nói rằng như thế là không được. Phần lớn [người học] bộ công pháp này của chúng ta là tu luyện trong xã hội người thường, chư vị không được làm cho mình thoát ly khỏi xã hội người thường; chư vị cần tu luyện một cách rõ ràng minh bạch. Quan hệ giữa người với người vẫn bình thường; tất nhiên tâm tính rất cao, tâm thái rất chính, đề cao tâm tính bản thân, đề cao tầng của mình, không làm chuyện xấu [chỉ] làm điều tốt; chỉ có biểu hiện như thế. Có người biểu hiện như thể là tinh thần không bình thường, như thể đã coi chán cõi hồng trần rồi, lời nói ra người ta không lý giải nổi. Người ta nói, Ông này học Pháp Luân Đại Pháp rồi là thành vậy ư? Tựa như mắc bệnh tâm thần ấy’. Thực ra không phải, mà là họ quá kích động thôi, không lý trí, không theo cái lý thông thường. Mọi người thử nghĩ xem, chư vị làm thế cũng không đúng, chư vị đã lại quay sang cực đoan mất rồi; cũng là tâm chấp trước. Chư vị cần vứt bỏ nó, sinh hoạt và tu luyện một cách bình thường như mọi người. Ở nơi người thường, [nếu] mọi người đều cho rằng chư vị thần hồn điên đảo, mọi người đều không nhìn nhận chư vị như bình thường, tránh xa chư vị, không ai cung cấp cho chư vị cơ hội đề cao tâm tính, không ai coi chư vị như người bình thường, thì tôi nói như vậy không được! Do đó mọi người nhất định phải chú ý vấn đề này, chư vị nhất định phải giữ bản thân mình cho đúng đắn. Công pháp của chúng ta không giống các công pháp bình thường khác, vốn mơ mơ màng màng, nửa mơ nửa tỉnh, thần hồn điên đảo. Công pháp chúng ta yêu cầu chư vị tu luyện bản thân mình một cách tỉnh táo minh bạch. Có người cứ nói Thưa Sư phụ, con cứ nhắm mắt lại là lắc động’. Tôi nói rằng không phải thế, chư vị đã hình thành thói quen vứt bỏ chủ ý thức của mình, hễ chư vị nhắm mắt liền buông lơi chủ ý thức của mình, đã mất rồi; chư vị đã hình thành thói quen như thế mất rồi. Chư vị ngồi đây tại sao không lắc động? Chư vị vẫn bảo trì trạng thái mở mắt, hơi hơi nhắm khẽ mắt lại thì hỏi chư vị có lắc động không? Tuyệt đối không. Chư vị cho rằng luyện khí công là phải như thế, chư vị đã hình thành khái niệm như thế, hễ nhắm mắt lại liền mất, chẳng còn biết đã đến đâu nữa. Chúng tôi giảng rằng chủ ý thức của chư vị nhất định phải thanh tỉnh, bởi vì bộ công pháp này là tu luyện bản thân chư vị, chư vị cần đề cao một cách tỉnh táo minh bạch. Chúng ta cũng có tĩnh công, bộ công pháp ấy chúng ta luyện như thế nào? Chúng tôi yêu cầu mọi người, chư vị dẫu có [nhập] định thâm sâu đến mấy cũng phải biết rằng bản thân mình đang luyện công ở đó, tuyệt đối không cho phép tiến nhập vào trạng thái không còn biết gì cả. Như vậy cụ thể sẽ xuất hiện trạng thái nào? Sẽ xuất hiện là lúc ngồi ở đó, cảm giác bản thân mình mỹ diệu hệt như đang ngồi trong vỏ trứng gà, cảm giác thoải mái phi thường, biết rằng mình đang luyện công tại đó, cảm giác toàn thân bất động. Đó là điều công pháp này của chúng ta nhất định sẽ xuất hiện. Còn một trạng thái nữa ngồi tới ngồi lui phát hiện chân [biến] mất, không biết rõ chân đã đi đâu mất, thân thể cũng [biến] mất, cánh tay cũng [biến] mất, bàn tay cũng [biến] mất, chỉ còn mỗi cái đầu não. Luyện tiếp nữa thì thấy đầu não cũng [biến] mất, chỉ còn [mỗi] tư duy của bản thân, một chút ý niệm biết rằng bản thân đang luyện công nơi ấy. Nếu chúng ta đạt đến mức độ ấy là đủ rồi. Vì sao? Người ta luyện công trong trạng thái ấy thì thân thể đạt đến trạng thái diễn hoá đầy đủ nhất, trạng thái tốt đẹp nhất, do đó chúng tôi yêu cầu chư vị nhập tĩnh vào trạng thái ấy. Nhưng chư vị không được ngủ [hay] mê mờ đi mất; như thế có thể những thứ tốt sẽ để người khác luyện mất. Tất cả những người luyện công chúng ta phải hết sức chú ý không được biểu hiện quá thất thường ở nơi người thường. Chư vị khởi tác dụng không tốt ở nơi người thường, người ta liền nói rằng, học Pháp Luân Đại Pháp rồi đều thành ra như thế cả; vậy cũng tương đương với phá hoại danh dự Pháp Luân Đại Pháp; phải nhất định chú ý việc này. Tại các phương diện khác và quá trình tu luyện cũng phải chú ý không được sinh tâm hoan hỷ; loại tâm này rất dễ bị ma lợi dụng. Tu khẩu Về tu khẩu’, tôn giáo quá khứ cũng giảng. Tuy nhiên tu khẩu mà họ nói đến đặt trọng điểm vào những người tu luyện chuyên nghiệp—tăng nhân và đạo sỹ—[họ] ngậm miệng không nói. Vì là người tu luyện chuyên nghiệp, mục đích là vứt bỏ [ở] mức độ lớn hơn các tâm chấp trước của con người; họ cho rằng người ta một khi động niệm liền là nghiệp. Trong tôn giáo [người ta] phân nghiệp thành hai loại nghiệp thiện và nghiệp ác; dẫu là nghiệp thiện cũng vậy, nghiệp ác cũng vậy, dùng cái không’ của Phật gia, cái vô’ của Đạo gia mà xét thì đều không nên làm; do vậy họ nói Tôi không làm gì cả’. Vì không thấy được quan hệ nhân duyên của sự vật, rằng sự việc kia rốt ráo là việc tốt hay việc xấu, còn có quan hệ nhân duyên ở đó. Người tu luyện bình thường chưa [được] cao tầng đến chỗ ấy, không thấy được điều này; do đó họ lo sợ rằng bề mặt là việc tốt, nhưng thực hiện rồi có khi lại là việc xấu. Vậy nên họ gắng sức giảng vô vi’, họ không làm gì cả; như thế họ tránh được việc tạo nghiệp thêm nữa. Bởi vì tạo nghiệp sẽ phải tiêu nghiệp, phải chịu khổ. Ví như người tu luyện chúng ta, đã định rõ là đến một bước nào đó sẽ khai công, chư vị đưa vào đó những thứ không cần thiết, nó đều sẽ thành khó nạn cho toàn thể việc tu luyện; do đó họ giảng vô vi. Tu khẩu được giảng trong Phật gia, ấy là, con người ta [lúc] nói đều do ý thức tư tưởng của mình chi phối; như vậy ý thức tư tưởng kia chính là hữu vi’. Nếu bản thân ý thức tư tưởng người ta vừa động niệm, nói một [lời] nào đó, làm một [điều] nào đó, chi phối giác quan hay tứ chi của con người, thì có thể là chấp trước nơi người thường. Ví như chư vị nói, [khi có] mâu thuẫn giữa người với người anh tốt đấy, nó không tốt, anh tu luyện được tốt đấy, còn nó tu luyện không có tốt’, bản thân những thứ ấy chính là mâu thuẫn. Chúng ta chỉ nói bình thường thôi tôi nên làm việc này hay việc nọ, hiện nay việc này nên thực hiện như thế này hay như thế kia’, nhưng cũng có thể vô ý làm tổn thương ai đó. Bởi vì mâu thuẫn giữa người với người rất là phức tạp; có thể vô ý tạo nghiệp. Thế là, họ giảng rằng tuyệt đối ngậm miệng không nói năng gì nữa. Quá khứ trong tôn giáo vẫn luôn luôn coi việc tu khẩu’ rất [quan] trọng; đó là điều giảng trong tôn giáo. Người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp chúng ta tuyệt đại đa số là tu luyện trong người thường trừ những đệ tử tu luyện chuyên nghiệp, như vậy không thể tránh khỏi [cuộc sống] sinh hoạt bình thường nơi xã hội người thường và giao tiếp ngoài xã hội. Ai cũng có công tác nào đó, hơn nữa cũng cần làm công tác cho tốt; có người thực hiện công tác của mình chính là thông qua việc thuyết nói; như vậy có phải là mâu thuẫn không? Cũng không mâu thuẫn. Không mâu thuẫn ở chỗ nào? Tu khẩu’ mà chúng ta giảng, khác hẳn với [tu khẩu] mà họ [giảng]. Vì pháp môn khác nhau, nên yêu cầu cũng khác nhau. Chúng ta mở miệng nói, đều [cần] chiểu theo tâm tính của người luyện công mà nói, không nói những lộng ngữ thị phi, không nói những lời bất hảo. Là người tu luyện cần chiểu theo tiêu chuẩn của Pháp mà nhận định bản thân mình, [lời] nào nên nói [lời] nào không. [Lời] nào nên nói, dùng Pháp nhận định thấy phù hợp với tiêu chuẩn tâm tính người luyện công thì không thành vấn đề; vả lại chúng ta còn phải giảng Pháp, tuyên truyền Pháp, do đó không nói nữa cũng không được. Chúng ta giảng tu khẩu, ấy là những danh lợi chưa vứt bỏ được nơi người thường và những gì không liên quan gì đến công tác thực tế ngoài xã hội của người tu luyện; hoặc chuyện phiếm vô dụng giữa các đệ tử đồng môn; hoặc muốn hiển thị xuất phát từ tâm chấp trước; hoặc những điều nghe ngoài đường hay tin đồn lưu truyền; hoặc một số việc ngoài xã hội hễ đàm luận đến liền thấy hưng phấn, thích nói [về chúng]; tôi nghĩ rằng chúng đều là tâm chấp trước của người thường. Tại những phương diện này tôi cho rằng chúng ta cần tu cái miệng ấy lại, đây là tu khẩu’ mà chúng tôi giảng. Các tăng nhân trong quá khứ coi việc này rất [quan] trọng, bởi vì hễ động niệm là họ đang tạo nghiệp. Do đó họ giảng “thân khẩu ý”. Tu thân’ mà họ giảng ấy, chính là không làm điều xấu. Tu khẩu’ chính là không nói. Tu ý’ chính là luôn cả nghĩ thì cũng không nghĩ nữa. Yêu cầu những việc này của người tu luyện chuyên nghiệp trong các chùa quá khứ rất nghiêm khắc. Chúng ta chiểu theo tiêu chuẩn tâm tính của người tu luyện để yêu cầu bản thân mình, dàn xếp cho tốt những gì nên nói những gì không nên nói là được rồi.
Bài giảng thứ bảy Vấn đề sát sinh Vấn đề sát sinh rất mẫn cảm; đối với người luyện công mà nói, yêu cầu của chúng tôi rất nghiêm khắc người luyện công không được sát sinh. Bất kể là Phật gia, Đạo gia, Kỳ Môn công pháp, cũng bất kể là môn nào phái nào, chỉ cần là tu luyện chính Pháp, thì đều coi [vấn đề] này rất tuyệt đối; đều không được sát sinh; điểm này là khẳng định. Bởi vì vấn đề xuất hiện sau khi sát sinh là quá to lớn, [nên] chúng tôi cần nói kỹ lưỡng cho mọi người. Sát sinh’, trong Phật giáo nguyên thuỷ, là chủ yếu nói về giết người’, đó là nghiêm trọng nhất. Về sau này, [giết] những sinh mệnh lớn, súc vật lớn hoặc những sinh mệnh có phần tương đối lớn, đều được xem là rất quan trọng. Vì sao giới tu luyện luôn luôn coi vấn đề sát sinh’ là nghiêm trọng đến như thế? Quá khứ trong Phật giáo có thuyết rằng, những [sinh mệnh] lẽ ra không phải chết nhưng bị giết chết, sẽ thành cô hồn dã quỷ. Quá khứ giảng siêu độ’, chính là chỉ về bộ phận những người này. Không cấp siêu độ [cho họ], thì những sinh mệnh ấy sẽ không ăn không uống, [sống] trong một hoàn cảnh rất cực khổ; đó là điều trước đây giảng trong Phật giáo. Chúng tôi [đã] giảng, khi một cá nhân làm một điều gì xấu nhắm vào một cá nhân khác, thì họ phải cấp cho người ta khá nhiều đức để bồi thường; ấy là chúng tôi chỉ những điều thông thường như chiếm hữu thứ gì đó của người khác. Nhưng nếu bất ngờ làm kết thúc một sinh mệnh—động vật cũng vậy, [hay] sinh vật khác cũng vậy—thì nó sẽ tạo thành một nghiệp lực khá to lớn. Sát sinh’ trong quá khứ chủ yếu nói về giết người; nghiệp tạo thành khá lớn. Tuy nhiên giết thể sinh mệnh bình thường khác cũng không phải là nhẹ; [cũng] trực tiếp sản sinh ra nghiệp lực rất lớn. Đặc biệt là người tu luyện, trong quá trình tu luyện, tại các tầng khác nhau [đã] thiết lập cho chư vị một chút nạn; đó đều là nghiệp lực của bản thân chư vị, là nạn của bản thân chư vị; giúp chư vị bày xếp tại các tầng khác nhau để chư vị đề cao. Chư vị chỉ cần đề cao tâm tính, thì có thể vượt qua được. Nhưng nếu đột nhiên thêm nghiệp lực lớn như thế lên đó, thì chư vị vượt qua sao đây? Dựa vào tâm tính của chư vị, chư vị hoàn toàn không có cách vượt qua; nên có thể làm chư vị hoàn toàn không thể tu luyện được nữa. Chúng tôi đã phát hiện, rằng khi một cá nhân giáng sinh, thì ở trong một phạm vi nhất định trong không gian của vũ trụ này có rất nhiều những cá nhân ấy’ đồng thời giáng sinh, cũng giống như cá nhân kia, cùng mang một tên, những việc họ làm là đại đồng tiểu dị; do đó cũng được tính là bộ phận của toàn bộ chỉnh thể cá nhân ấy. Khía cạnh này động chạm đến một vấn đề nếu như một thể sinh mệnh các thể sinh mệnh của các động vật lớn cũng thế, mà đột nhiên bị chết, nhưng cá nhân ấy ở các không gian khác đều chưa hề đi hết tiến trình sinh mệnh đã được đặc định từ đầu, vẫn còn có rất nhiều năm cần phải sống. Như vậy cá nhân bị chết ấy sẽ rơi vào hoàn cảnh không nơi tá túc, [phải] phiêu đãng trong không gian vũ trụ. Quá khứ có giảng cô hồn dã quỷ, không ăn không uống, rất khổ; cũng có thể là như vậy. Tuy nhiên chúng tôi thật sự nhìn thấy rằng cá nhân ấy [sống] trong một hoàn cảnh rất đáng sợ chính là họ phải liên tục đợi mãi, đợi cho đến khi tất cả những cá nhân ở các không gian khác đi hết tiến trình sinh mệnh, thì mới có thể tìm được nơi tá túc cho mình. Thời gian càng lâu, thì cá nhân ấy chịu khổ càng nhiều. Cái khổ mà cá nhân ấy chịu càng nhiều, thì nghiệp lực do thống khổ của cá nhân ấy tạo thành cũng liên tục cấp thêm lên thân của kẻ sát sinh; chư vị nghĩ xem chư vị sẽ tăng thêm biết bao nhiêu nghiệp lực? Chúng tôi thông qua công năng mà nhìn thấy được như thế. Chúng tôi còn thấy một tình huống vào lúc một cá nhân giáng sinh, thì ở trong một không gian đặc định đều có hình thức tồn tại của một đời của cá nhân ấy; nghĩa là, sinh mệnh của cá nhân này [khi] đến một [lúc] nào đó, [sẽ] cần phải làm gì đó, thì ở đấy đã có hết rồi. Hỏi ai an bài một đời cho cá nhân ấy? Quá hiển nhiên, chính là một sinh mệnh cao cấp hơn đã làm điều này. Nói thí dụ, chúng ta ở trong xã hội người thường, sau khi họ sinh ra, họ sẽ thuộc về gia đình ấy, thuộc về trường học ấy, lớn lên sẽ thuộc về đơn vị [công tác] ấy, thông qua công tác của mình và xã hội sẽ có được những liên hệ về rất nhiều phương diện; tức là bố cục của chỉnh thể xã hội đều được bố trí như thế cả. Tuy nhiên vì sinh mệnh này đột nhiên chết đi, không còn theo sự an bài đặc định từ ban đầu, mà xảy ra thay đổi. Như vậy [đối với] người mà đã làm loạn ấy, thì sinh mệnh cao cấp kia không tha thứ cho họ được. Mọi người thử nghĩ xem, làm người luyện công, chúng ta muốn tu luyện lên trên cao tầng, nhưng các sinh mệnh trên cao tầng cũng không tha thứ, vậy chư vị còn có thể tu luyện được không? Có những sư phụ không cao tầng bằng sinh mệnh cao cấp vốn đã an bài sự tình ấy, do đó sư phụ của họ cũng gặp tai hoạ, cũng bị đánh hạ xuống. Mọi người thử nghĩ xem, đó có còn là một vấn đề bình thường không? Do đó một khi làm điều [sát sinh] này thì sẽ rất khó tu luyện. Trong các học viên Pháp Luân Đại Pháp, có thể có những người đã tham gia chiến đấu trong những niên đại chiến tranh. Chiến tranh ấy là trạng thái do toàn bộ đại biến hoá của thiên tượng đưa đến; chư vị bất quá chỉ là một phần tử trong trạng thái như thế. Biến hoá của thiên tượng mà ở [xã hội] bên dưới nếu không có người [hành] động [theo], thì cũng không thể đưa đến trạng thái như thế ở xã hội người thường, và cũng không gọi là biến hoá của thiên tượng được. Những sự tình như thế là tuỳ thuận theo đại biến hoá mà biến hoá, những việc ấy không thể hoàn toàn tính là do bản thân chư vị được. Chúng tôi giảng ở đây là những việc làm xấu vì những mưu đồ cho cá nhân, hoặc để thoả mãn lợi ích cá nhân, hoặc vì những điều gì của bản thân bị ảnh hưởng mà mang đến nghiệp lực. Còn phàm đã liên quan đến toàn bộ đại biến hoá của không gian, biến hoá trên hình thế rộng lớn ngoài xã hội, thì đều không thuộc về vấn đề của chư vị. Sát sinh sẽ tạo thành nghiệp lực rất lớn. Có người nghĩ Không được sát sinh, vậy tôi làm cơm ở nhà, nếu tôi không sát sinh, thì người nhà tôi ăn gì?’ Tôi không quan tâm đến vấn đề cụ thể ấy; tôi giảng Pháp cho người luyện công, chứ không phải giảng một cách tuỳ tiện cho người thường cần sống như thế nào. Vấn đề cụ thể nên thực hiện ra sao, cần phải dùng Đại Pháp mà cân nhắc; chư vị hiểu được làm thế nào là tốt, thì chư vị làm như thế. Người thường muốn làm gì thì họ làm nấy; đó là những chuyện nơi người thường; ai ai cũng đều chân tu là điều không thể. Nhưng đã là người luyện công, thì cần phải [dùng] tiêu chuẩn cao mà yêu cầu; do vậy ở đây là điều kiện đề xuất cho người luyện công. Không phải chỉ có người [hay] động vật, mà cả thực vật cũng có sinh mệnh; ở trong không gian khác bất kể vật chất nào cũng đều thể hiện xuất lai ra sinh mệnh. Khi thiên mục của chư vị khai mở đến tầng Pháp nhãn, [thì] chư vị sẽ phát hiện rằng mọi thứ như đá, tường đều có thể nói chuyện với chư vị, gọi chào chư vị. Có thể có người nghĩ Vậy lương thực, rau mà chúng ta ăn đều có sinh mệnh; ở nhà còn có nhặng xanh, muỗi thì làm thế nào?’ Mùa hè bị [muỗi] đốt rất khó chịu, nhìn thấy nó đốt [cũng] không được đập; thấy nhặng xanh đậu vào làm bẩn đồ ăn, cũng không được đánh. Tôi nói với mọi người chúng ta không được tuỳ ý vô cớ sát hại sinh linh. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể làm kẻ quân tử’ cẩn thận những điều nhỏ nhặt, mắt chỉ nhìn những việc nhỏ bé, đi đường cứ sợ dẫm chết kiến, [nên] phải vừa đi vừa nhảy. Tôi nói rằng chư vị sống thế mệt mỏi lắm, đó cũng chẳng phải chấp trước là gì? Chư vị vừa đi vừa nhảy, không dẫm chết kiến, nhưng có nhiều vi sinh vật, chư vị cũng dẫm chết rồi. Tại vi quan còn có rất nhiều thể sinh mệnh nhỏ hơn nữa, còn có vi khuẩn và vi trùng, có thể chư vị cũng dẫm chết chúng không ít; như vậy [có lẽ] chúng ta đừng sống nữa. Chúng ta không phải làm người như thế, [như thế] không cách nào tu luyện được. Phải nhìn đến những chuyện lớn, cần tu luyện một cách đường đường chính chính. Con người chúng ta sống thì có quyền lợi duy trì sự sinh hoạt của con người, do đó hoàn cảnh sinh hoạt cũng phải thích ứng với yêu cầu sinh sống của con người. Chúng ta không thể cố ý làm hại các sinh linh; nhưng chúng ta cũng không thể câu nệ thái quá đến những sự việc nhỏ bé kia. Ví như rau và lương thực đều có sinh mệnh, chúng ta cũng không thể vì chúng có sinh mệnh mà không ăn không uống; như thế còn luyện công gì nữa? Cần phải xét rộng. Ví như khi chư vị đang đi trên đường, thì kiến, côn trùng chạy vào dưới chân, và bị dẫm chết; như thế có thể chúng cần phải chết, bởi vì chư vị không cố ý làm hại chúng. Trong giới sinh vật hoặc trong các vi sinh vật khác cũng nói về vấn đề cân bằng sinh thái; nhiều quá thì cũng là thái quá; do đó chúng tôi giảng tu luyện một cách đường đường chính chính. Ở nhà có nhặng xanh, muỗi, chúng ta suỵt đuổi chúng, lắp rèm chắn không cho chúng vào. Tuy nhiên có lúc suỵt đuổi không đi, thì đập chết là đập chết thôi. [Tại] không gian mà con người ở, nếu chúng đốt người ta làm hại người ta thì đương nhiên cần xua đuổi chúng đi; đuổi không đi, thì không thể coi chúng ở đó đốt người ta [mà mặc kệ]. Chư vị là người luyện công không có e sợ, [vốn] đã có lực đề kháng; [nhưng] người nhà chư vị không luyện công, [mà] là người thường, còn vấn đề bệnh truyền nhiễm; cũng không thể nhìn [chúng] đốt lên mặt đứa bé mà [vẫn] mặc kệ. Tôi lấy một ví dụ cho chư vị, có một câu chuyện trong những năm đầu của Thích Ca Mâu Ni. Một hôm, Thích Ca Mâu Ni cần tắm, ở trong rừng rậm ấy Ông yêu cầu đệ tử của mình dọn sạch bồn tắm. Vị đệ tử của Ông đến coi, thấy trong bồn tắm bám đầy côn trùng; nếu dọn sạch bồn tắm sẽ giết chết những côn trùng ấy. Đệ tử quay lại nói với Thích Ca Mâu Ni rằng bồn tắm bám đầy côn trùng. Thích Ca Mâu Ni không nhìn vị đệ tử này, nói một câu Con hãy đi dọn sạch bồn tắm’. Vị đệ tử này đến chỗ bồn tắm thấy rằng không biết hạ thủ ra sao; hễ [dọn] thì côn trùng phải chết; vị này loanh quanh một vòng rồi lại quay lại hỏi Thích Ca Mâu Ni Bạch Sư tôn, bồn tắm bám đầy côn trùng; nếu [dọn sạch] sẽ làm côn trùng kia chết mất’. Thích Ca Mâu Ni [đưa mắt] nhìn vị ấy và nói Điều ta bảo con là hãy đi dọn sạch bồn tắm’. Vị đệ tử này giật mình tỉnh ngộ, lập tức dọn sạch bồn tắm. Trong [câu chuyện] này đã nói rõ một vấn đề không thể [chỉ] vì có côn trùng, mà chúng ta không tắm; cũng không thể [chỉ] vì có muỗi, mà chúng ta phải đi nơi khác tìm chỗ ở; không thể [chỉ] vì lương thực cũng có sinh mệnh, rau có sinh mệnh, mà chúng ta liền thít cổ lại không ăn không uống chi nữa. Không thể như thế được; chúng ta cần cân bằng quan hệ này cho đúng, tu luyện một cách đường đường chính chính; chúng ta không cố ý làm hại các sinh mệnh là được rồi. Cũng vậy, con người cần có không gian sinh hoạt và điều kiện sinh tồn của con người, cũng cần duy hộ [điều đó]; con người cũng cần duy trì sự sống và sinh hoạt bình thường. Trong quá khứ có một số khí công sư giả giảng Mùng một, mười lăm [âm lịch] thì có thể sát sinh’. Có người còn giảng Có thể giết những [con vật] hai chân’, cứ như thể loài hai chân không phải là sinh linh vậy. Sát sinh vào mùng một, mười lăm mà không tính là sát sinh, thì phải chăng là đào đất? Có những khí công sư giả, mà từ lời nói hành vi của họ đã có thể phân biệt ra ngay; [điều] họ nói là gì, [điều] họ truy cầu là gì; phàm là khí công sư mà có những ngôn luận như thế thì thường là phụ thể. Chư vị [hãy] xem khí công sư có phụ thể là cáo đang ăn thịt gà ra sao, đúng là ăn nuốt ngốn ngấu, cũng chẳng buồn nhả xương ra nữa. Sát sinh không chỉ tạo thành nghiệp lực to lớn, mà còn liên quan đến vấn đề tâm từ bi. Người tu luyện chúng ta chẳng phải cần có tâm từ bi? Khi tâm từ bi của chúng ta xuất hiện, có thể thấy rằng chúng sinh đều khổ, thấy ai cũng khổ; sẽ xuất hiện vấn đề này. Vấn đề ăn thịt Ăn thịt cũng là một vấn đề rất mẫn cảm, tuy nhiên ăn thịt không phải là sát sinh. Chư vị học Pháp một thời gian lâu rồi, [nhưng] chúng tôi không hề yêu cầu mọi người không ăn thịt. Có rất nhiều khí công sư khi mà chư vị vừa nhập học, liền bảo chư vị rằng Bắt đầu từ bây giờ sẽ không được ăn thịt nữa’. Chư vị có thể nghĩ Đột nhiên không được ăn thịt, tư tưởng cũng chưa được chuẩn bị. Hôm nay ở nhà có thể có gà hầm, cá rán, dậy mùi thơm phức nhưng lại không được ăn’. Tu luyện trong tôn giáo cũng như thế, [họ] cưỡng chế không cho ăn [thịt]. Công [pháp] thông thường của Phật gia, một số công [pháp] của Đạo gia cũng giảng như thế không được ăn [thịt]. Chúng tôi tại đây không yêu cầu chư vị làm thế; tuy nhiên chúng tôi cũng giảng về nó. Vậy chúng tôi giảng thế nào? Bởi vì công pháp của chúng tôi là công pháp Pháp luyện người’. Công pháp Pháp luyện người [này], chính là một số trạng thái sẽ từ công, từ Pháp thể hiện ra. Trong quá trình tu luyện các tầng khác nhau sẽ thể hiện ra các trạng thái khác nhau. Như vậy sẽ có hôm, hoặc ngay hôm nay sau khi tôi giảng bài xong sẽ có người tiến nhập vào trạng thái như thế này không thể ăn thịt được; ngửi thấy rất hôi tanh, ăn vào liền thấy buồn nôn. Không phải vì người ta khống chế chư vị hoặc chư vị tự khống chế bản thân là không được ăn, mà [nó] xuất phát ra từ nội tâm; đến tầng ấy, từ trong công phản ánh ra nên không thể ăn được; thậm chí nếu chư vị thật sự nuốt vào rồi, thì sẽ thật sự nôn ra. Những học viên lâu năm của chúng ta đều đã biết, tu luyện Pháp Luân Đại Pháp sẽ xuất hiện trạng thái ấy, tại các tầng khác nhau sẽ phản ánh các trạng thái khác nhau. Dục vọng [ăn thịt] của một số học viên tương đối lớn, tâm ăn thịt rất mạnh, thường hay ăn nhiều thịt. Đến lúc mọi người đều thấy thịt tanh hôi, [thì] họ vẫn thấy không tanh, vẫn có thể ăn được. Để họ vứt bỏ cái tâm này, thì làm sao đây? Họ ăn thịt vào liền bị đau bụng, không ăn [thịt] thì không đau; sẽ xuất hiện trạng thái này, nghĩa là không được ăn [thịt] nữa. Vậy phải chăng môn này của chúng tôi từ đó trở đi là không còn dính dáng gì đến thịt nữa? Không phải thế. Hỏi đối xử với vấn đề này như thế nào? Không thể ăn [thịt] thực sự xuất ra tự nội tâm rằng không thể ăn. Mục đích là gì? Tu luyện trong chùa cưỡng chế chư vị không cho ăn [thịt] và sự phản ánh không thể ăn [thịt] của chúng ta, đều là để vứt bỏ dục vọng và tâm chấp trước của con người đối với thịt. Có người hễ bưng bát cơm lên mà không có thịt, thì quả thực nuốt cơm không trôi; đây là dục vọng của người thường. Một buổi sáng sớm [khi] tôi đi qua con đường chỗ cổng sau công viên Thắng Lợi tại Trường Xuân. Có ba người từ phía cổng sau nói chuyện ầm ỹ đi ra, trong đó một người nói Luyện công gì rồi không cho ăn thịt nữa? Tôi thà sống ít đi mười năm mà được ăn thịt còn hơn!’ Dục vọng này quả là mạnh mẽ. Mọi người thử nghĩ xem, dục vọng ấy có nên tống khứ không? Rõ là cần phải tống khứ rồi. Người ta trong quá trình tu luyện cần phải tống khứ các loại dục vọng, tâm chấp trước của con người. Nói thẳng ra, nếu cái tâm ăn thịt mà không vứt bỏ đi, thì đó chẳng phải là tâm chấp trước chưa bỏ được là gì? Liệu có thể tu viên mãn không? Do vậy miễn là tâm chấp trước, thì cần phải tống khứ đi. Tuy nhiên không phải từ đó trở đi vĩnh viễn không ăn [thịt] nữa; không cho chư vị ăn thịt tự bản thân nó không phải là mục đích; mục đích là không cho chư vị có tâm chấp trước này. Nếu trong giai đoạn thời gian không ăn được thịt, chư vị vứt bỏ được tâm chấp trước ấy, thì sau đó lại có thể ăn thịt, ngửi cũng không thấy tanh hôi. Ăn vào cũng không thấy khó ăn, đến lúc ấy chư vị cứ ăn thôi, không sao. Đến khi chư vị có thể ăn [thịt trở lại], tâm chấp trước của chư vị đã mất đi rồi, tâm dục vọng đối với thịt cũng đã mất rồi. Tuy nhiên sẽ phát sinh một biến đổi to lớn sau đó ăn thịt không thấy thơm nữa; [nếu] ở nhà làm [món thịt] thì cùng ăn, ở nhà không làm [món thịt] thì cũng không nghĩ đến; ăn vào cũng không thấy có hương vị gì; sẽ xuất hiện trạng thái này. Tuy vậy tu luyện nơi người thường rất phức tạp, nếu ở nhà vẫn mãi cứ làm món thịt, sau một thời gian lâu rồi, chư vị ăn vào lại cảm thấy rất có hương vị; sau đó lại lặp lại, trong toàn bộ quá trình tu luyện, sẽ xuất hiện lặp lại nhiều lần. Đột nhiên chư vị lại không ăn được [thịt]; không ăn được thì không ăn nữa, thật sự không ăn được, ăn vào liền muốn nôn; hãy đợi đến khi chư vị có thể ăn được, tuỳ kỳ tự nhiên’. Ăn thịt hay không ăn thịt tự bản thân nó không phải là mục đích; vứt bỏ tâm chấp trước mới là chỗ then chốt. Môn Pháp Luân Đại Pháp của chúng tôi tiến bộ tương đối nhanh; chỉ cần chư vị đề cao tâm tính, thì đột phá từng tầng đều rất nhanh. Có người nguyên ban đầu đối với thịt không chấp trước thái quá, có [thịt ăn] hay không cũng không thành vấn đề. Kiểu người này qua một hai tuần liền vượt qua, liền vứt bỏ được cái tâm ấy. Có người duy trì đến một tháng, hai tháng, ba tháng, có thể tới nửa năm; ngoài tình huống cực kỳ đặc thù ra thì không quá một năm rồi cũng có thể ăn. Bởi vì thịt đã là một bộ phận chủ yếu trong những đồ ăn của con người. Tuy nhiên [người] chuyên tu trong nhà chùa không được ăn thịt. Chúng ta giảng một chút về nhận thức [vấn đề] ăn thịt trong Phật giáo. Phật giáo nguyên thuỷ lúc đương sơ không có giới cấm ăn thịt. Đương thời khi Thích Ca Mâu Ni dẫn dắt các đồ đệ tu khổ [hạnh] trong rừng rậm, thì hoàn toàn không có giới luật cấm thịt. Tại sao không có? Bởi vì vào thời Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp hơn 2500 năm trước, xã hội nhân loại rất lạc hậu; có nhiều vùng đất có nông nghiệp, có nhiều vùng đất chưa có nông nghiệp, diện tích đất canh tác rất ít, chỗ nào cũng là rừng rậm. Ngũ cốc rất khan hiếm, rất ít ỏi. Con người vừa mới thoát thai từ xã hội nguyên thuỷ, sống chủ yếu bằng săn bắt, có rất nhiều vùng đất còn sống chủ yếu bằng ăn thịt. Để vứt bỏ [ở] mức tối đa các tâm chấp trước của con người, Thích Ca Mâu Ni đã không cho [đồ đệ] tiếp xúc với bất kể những thứ gì như tài, vật; [Ông] dẫn dắt các đệ tử đi xin ăn, đi hoá duyên. Người ta cấp cho gì thì ăn nấy; là người tu luyện thì cũng không thể lựa chọn đồ ăn; trong đồ ăn được cấp có thể có thịt. Tại Phật giáo nguyên thuỷ còn có thuyết pháp về giới huân’. Giới huân chính là từ Phật giáo nguyên thuỷ, tuy nhiên hiện tại lại nói rằng ăn thịt là thuộc về huân. Kỳ thực thời ấy huân không phải nói về thịt, [mà] là chỉ nói về những thứ như hành, gừng, tỏi. Vì sao coi chúng là huân’? Hiện nay có nhiều tăng nhân không thuyết minh [điều này] được rõ, bởi vì có nhiều người trong số họ không giảng thực tu, [và] cũng không biết được nhiều điều. Điều Thích Ca Mâu Ni truyền gọi là “Giới Định Huệ”. Giới là giới [cấm] hết thảy những dục vọng của người thường; Định là nói về người tu luyện hoàn toàn ở trong thiền định, trong đả toạ mà tu luyện, cần hoàn toàn nhập định. Hết thảy những thứ can nhiễu làm cho không thể nhập định, không thể tu luyện đều được coi là những can nhiễu nghiêm trọng; ai mà ăn hành, gừng, tỏi đều có mùi rất mạnh. Thời bấy giờ các tăng nhân ở trong rừng rậm, sơn động, cứ bảy hoặc tám vị [ngồi] thành một vòng; ngồi đả toạ thành từng vòng từng vòng. Nếu như ai ăn thứ đó, thì sẽ sinh ra mùi vị có kích thích rất mạnh, làm ảnh hưởng đến đả toạ, ảnh hưởng đến người khác nhập định, can nhiễu nghiêm trọng đến luyện công của người ta. Do vậy đã có giới luật ấy, coi những thứ ấy là huân’, không cho phép ăn chúng. Rất nhiều thể sinh mệnh tu luyện xuất ra ở trên thân thể người [tu] đều thấy khó chịu cái mùi vị nặng nề ấy. Hành, gừng, tỏi đều có thể kích thích người ta phát sinh dục vọng; ăn nhiều cũng gây nghiện; do đó chúng bị coi là huân. Quá khứ có rất nhiều tăng nhân sau khi tu luyện đến tầng rất cao, lọt vào trạng thái khai công hoặc bán khai công, [họ] cũng biết rằng giới luật kia trong quá trình tu luyện cũng không có nghĩa gì. Nếu sau khi có thể vứt bỏ cái tâm ấy rồi, thì những thứ vật chất kia tự bản thân nó không có tác dụng gì; còn điều thật sự can nhiễu đến người ta chính là cái tâm ấy. Do đó các cao tăng trong quá khứ cũng thấy rằng vấn đề người ta ăn thịt không phải là vấn đề then chốt nào hết; vấn đề then chốt là có thể vứt bỏ cái tâm kia hay không; [nếu] không có tâm chấp trước thì ăn gì cho đầy bao tử cũng được. Bởi vì trong chùa đã tu luyện như thế từ xưa đến nay, rất nhiều người đã quen như thế. Hơn nữa nó cũng không còn đơn thuần là vấn đề giới luật, mà đã thành một chế độ ghi rõ trong các chùa hoàn toàn không được ăn [thịt]; người ta đã quen với tu như thế rồi. Chúng ta nói về hoà thượng Tế Công; trong các tác phẩm nghệ thuật [ông] được [người ta] làm cho rất nổi [tiếng]; hoà thượng phải cấm thịt, nhưng ông lại ăn thịt, [điều ấy] làm ông trở nên rất khác thường. Thực ra sau khi Tế Công bị trục xuất khỏi chùa Linh Ẩn, thì đồ ăn đương nhiên trở thành vấn đề rất chủ yếu của ông, cuộc sống trở nên nguy khốn. Để lấp cho đầy bao tử, ông kiếm được gì liền ăn nấy, chỉ cần nạp đầy bao tử là được rồi; không có chấp trước vào bất kể đồ ăn nào, thì không sao cả. Khi tu luyện đến đó, ông đã hiểu rõ đạo lý này; thực ra Tế Công cũng bất quá ăn thịt đôi lần thôi. Hễ nói hoà thượng ăn thịt, các nhà viết văn liền thấy hứng thú lắm; đề tài nào càng giật gân, thì càng làm cho người ta muốn xem; các tác phẩm văn nghệ là nguyên lấy từ cuộc sống và thổi phồng cuộc sống lên, rồi đưa ra tuyên truyền. Thực ra điều thật sự cần vứt bỏ là các tâm chấp trước; [còn] để lấp cho đầy bao tử thì ăn gì cũng không thành vấn đề. Tại Đông Nam Á hoặc tại phía Nam nước ta, Quảng Tây và Quảng Đông, có một số cư sỹ khi nói chuyện, họ không nói là tu Phật’, như thể là danh từ tu Phật’ lỗi thời quá; họ nói là họ ăn trai tịnh, ăn chay; ngụ ý tức là ăn chay tu Phật’. Họ coi việc tu Phật thành điều đơn giản như thế. Ăn chay có thể tu Phật chăng? Như mọi người đã biết, đó chỉ là một chấp trước, dục vọng của người thường, chỉ là một cái tâm, chỉ vứt bỏ được một cái tâm. Còn phải bỏ tâm tật đố, tâm tranh đấu, tâm hoan hỷ, tâm hiển thị, các loại tâm; tâm người ta rất nhiều, tất cả các tâm, các loại dục vọng, đều phải vứt bỏ, thì mới có thể đạt đến tu luyện viên mãn. Còn chỉ vứt bỏ được cái tâm ăn thịt’, thì có thể tu Phật là sao? Cách nói này không đúng. Con người trong vấn đề ăn thì không chỉ là ăn thịt; chấp trước đối với bất kể đồ ăn nào cũng là không được; những thứ khác cũng như thế. Có người nói tôi rất thích ăn thứ này’; đó cũng là dục vọng; người tu luyện sau khi đến một trình độ nhất định, sẽ không có cái tâm ấy nữa. Đương nhiên Pháp chúng tôi giảng là rất cao, là kết hợp [từ] các tầng mà giảng; [chư vị] không thể lập tức đạt đến điểm này được. Giả sử chư vị muốn ăn một thứ nào đó, thì khi tu luyện đã thật sự đến lúc phải bỏ cái tâm ấy, thì chư vị sẽ không thể ăn [nó] nữa; chư vị ăn vào sẽ thấy chẳng đúng vị nữa, có khi chẳng ra vị gì. Hồi tôi còn đi làm ở đơn vị [công tác], nhà ăn của đơn vị cứ thua lỗ mãi, sau đó phải đóng cửa. Đóng cửa rồi thì anh chị em phải mang cơm đi. Sáng sớm làm cơm, rồi vội vội vàng vàng đi làm rất nhọc sức. Đôi lúc [tôi] mua hai cái bánh bao, một miếng đậu phụ chấm tương. Về lý mà xét thì đó là món rất thanh đạm cũng khả dĩ; [nhưng] cứ ăn thế mãi cũng không được, cũng cần vứt bỏ cái tâm ấy. Chư vị vừa nhìn thấy món đậu phụ, liền cảm thấy buồn nôn; nếu ăn nữa [cũng] không ăn được; cũng e rằng chư vị sẽ sản sinh tâm chấp trước. Tuy nhiên đó là phải sau khi tu luyện đến một trình độ nhất định; lúc mới bắt đầu sẽ không như thế. Phật gia không giảng uống rượu, chư vị thấy ông Phật nào mang theo bình rượu không? Không. Tôi nói rằng không thể ăn thịt; sau khi ở nơi người thường vứt bỏ tâm chấp trước ấy rồi, thì tương lai ăn [thịt] trở lại không thành vấn đề. Tuy nhiên đã giới [cấm] rượu rồi là sau đó không được uống nữa. Trên thân người luyện công chẳng phải có công? Công các loại hình thái, có những công năng hiển hiện trên bề mặt thân thể chư vị, đều là thuần tịnh. Hễ chư vị uống rượu, thì “vù” một cái [chúng] lập tức đều rời khỏi thân thể; ngay trong nháy mắt chư vị chẳng còn gì nữa; ai cũng sợ cái mùi vị này. Nếu chư vị nhiễm thói quen ấy thì rất gay; uống rượu vào là loạn tính. Vì sao có một số [người] tu luyện Đại Đạo phải uống rượu? Vì họ không tu luyện chủ nguyên thần, [rượu] là để đánh mê chủ nguyên thần. Có người quý rượu như [sinh] mệnh vậy, có người chỉ thích có rượu, có người uống đến mức bị đầu độc trong rượu, không có rượu thì thậm chí chẳng thể nâng nổi bát cơm, không uống không [chịu] được. Người luyện công chúng ta không nên như thế. Uống rượu khẳng định là gây nghiện, nó là dục vọng chà xát, kích thích lên thần kinh gây nghiện của người ta; càng uống nghiện càng nặng. Làm người luyện công, chúng ta thử nghĩ xem, tâm chấp trước ấy có nên vứt bỏ đi không? Tâm ấy cũng cần phải bỏ. Có người nghĩ Không được đâu, tôi phải đón tiếp tiễn đưa [khách]’, hoặc Tôi chuyên trách liên hệ công tác [giao dịch] bên ngoài, không uống rượu thì không làm tốt công việc được’. Tôi nói rằng không như vậy; khi bàn công việc kinh doanh, nhất là bàn việc kinh doanh với người nước ngoài; chư vị gọi đồ uống, người này gọi nước khoáng, người kia gọi bia. Không ai ép chư vị uống [rượu]; chư vị tự chọn tự uống, uống bao nhiêu thì uống; nhất là trong những người trí thức, lại càng không có chuyện ấy; thông thường là như vậy. Hút thuốc cũng là chấp trước, có người nói rằng hút thuốc có thể làm tinh thần tỉnh táo; tôi nói rằng đó là tự dối mình dối người. Có người làm việc đến lúc mệt hoặc giả viết sách đến lúc mệt mỏi, bèn muốn nghỉ một lát hút điếu thuốc; họ liền cảm thấy rằng hút thuốc xong thì tinh thần lại tỉnh táo lại. Thực ra không phải vậy, lý do là vì họ đã nghỉ một lúc. Tư tưởng của người ta có thể tạo thành một cảm giác sai, còn gây ra một ảo giác. Như vậy về sau thực sự hình thành quan niệm [như thế], hình thành cảm giác sai [như thế]; chư vị cảm thấy dường như hút thuốc làm tinh thần tỉnh táo lên; [thực ra] hoàn toàn không phải, nó không có tác dụng. Đối với thân thể con người thì hút thuốc không có chút gì tốt cả; một cá nhân hút thuốc một thời gian lâu, đến lúc bác sỹ giải phẫu thân thể người ấy, thì thấy khí quản đều là đen, trong phổi đều đã thành đen. Những người luyện công chúng ta chẳng phải giảng tịnh hoá thân thể? Chẳng phải liên tục tịnh hoá thân thể, liên tục phát triển hướng lên cao tầng. Vậy mà chư vị lại rước những thứ ấy vào trong thân thể, chẳng phải chư vị [làm] ngược hẳn với chúng tôi? Ngoài ra nó còn là một loại dục vọng rất mạnh mẽ. Có người cũng biết rằng nó không tốt, nhưng không cai hẳn được. Thực ra tôi nói với mọi người rằng [vì] họ chưa có một tư tưởng thích đáng chỉ đạo [cho việc này]; nên họ muốn bỏ nó như vậy không dễ. Làm người tu luyện, từ nay chư vị hãy coi đó là một tâm chấp trước và bỏ nó đi, [rồi] chư vị thử xem có thể cai hẳn được không. Tôi khuyên mọi người, rằng ai thật sự muốn tu luyện [thì] từ nay trở đi [hãy] cai hẳn thuốc lá, bảo đảm chư vị có thể cai hẳn được. Tại trường [năng lượng] của lớp học tập này không có ai nghĩ đến hút thuốc; nếu chư vị muốn cai, đảm bảo chư vị có thể cai; chư vị hễ cầm [điếu] thuốc hút trở lại [thì] sẽ không thấy đúng mùi vị nữa. Chư vị đọc sách đọc bài giảng này, cũng sẽ có tác dụng ấy. Tất nhiên nếu chư vị không muốn tu luyện, thì chúng tôi cũng không quản; làm một người tu luyện, tôi nghĩ rằng chư vị cũng nên cai bỏ nó đi. Tôi từng lấy ví dụ này chư vị thấy có ông Phật, ông Đạo ngồi ngậm điếu thuốc lá không? Đâu có chuyện ấy? Làm người tu luyện, mục tiêu của chư vị là gì? Chẳng phải chư vị cần cai hẳn nó ư? Do đó tôi giảng rằng chư vị muốn tu luyện, thì chư vị phải cai hẳn nó đi; nó làm hại thân thể chư vị, hơn nữa lại là một thứ dục vọng, hoàn toàn trái ngược với yêu cầu của những người tu luyện chúng ta. Tâm tật đố Khi giảng Pháp tôi thường hay giảng vấn đề tâm tật đố. Vì sao? Bởi vì tâm tật đố biểu hiện cực kỳ mạnh mẽ ở Trung Quốc, mạnh mẽ đến mức đã trở thành tự nhiên, bản thân không cảm giác thấy. Tại sao người Trung Quốc có tâm tật đố mạnh mẽ đến như vậy? Nó có căn nguyên [của nó]. Người Trung Quốc trong quá khứ chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất sâu sắc, tính cách rất hướng nội; nóng giận không biểu hiện ra, cao hứng cũng không biểu hiện ra; [họ] giảng hàm dưỡng, giảng Nhẫn. Bởi vì đã thành tập quán là như vậy, do đó toàn bộ dân tộc chúng ta đều hình thành tính cách rất hướng nội. Tất nhiên nó có chỗ tốt, không để lộ tài năng bên trong. Nhưng cũng tồn tại những điều dở, có thể mang đến những trạng thái không tốt. Đặc biệt đã đến thời kỳ mạt Pháp, thì bộ phận không tốt ấy lại biểu hiện nổi cộm hơn nữa, cũng có thể làm cho người ta tăng trưởng tâm tật đố. Ai có điều tốt mà biểu lộ ra, thì người khác lập tức [ganh tỵ] tật đố đến mức khó chịu; ở trong đơn vị [công tác] hoặc ngoài đơn vị mà được thưởng, hay được điều gì tốt thì về không dám nói năng gì, [e rằng] người khác biết sẽ thấy bất bình trong tâm. Người Tây phương gọi đó là tật đố Đông phương’, cũng gọi là tật đố châu Á’. Toàn bộ vùng châu Á đều chịu ảnh hưởng của Nho giáo tương đối sâu sắc, ít nhiều là như thế; còn riêng Trung Quốc chúng ta thì biểu hiện rất mạnh mẽ. Điều này có quan hệ đến chủ nghĩa bình quân tuyệt đối mà chúng ta thực thi trước đây; dù sao trời sập thì mọi người đều chết; có gì tốt thì mọi người chia đều nhau; lương tăng mấy phần trăm thì mỗi người đều có phần’. Tư tưởng này xem ra thật là đúng, ai ai cũng như nhau. Kỳ thực làm sao mà như nhau được? Công tác thực thi là khác nhau, mức độ chức vụ trách nhiệm cũng khác nhau. Vũ trụ này của chúng ta còn một [Pháp] lý, gọi là bất thất bất đắc, đắc tựu đắc thất’. Trong người thường còn giảng không làm không được, làm nhiều được nhiều, làm ít được ít’, phó xuất nhiều, thì nên được nhiều. Trước đây thực thi chủ nghĩa bình quân tuyệt đối, giảng rằng dẫu cá nhân nào thì sinh ra là đều như nhau, hậu thiên [mới] cải biến người ta. Tôi nói rằng thuyết ấy quá tuyệt đối; cái gì quá tuyệt đối thì không còn đúng nữa. Cớ sao người ta sinh ra có nam có nữ? Lớn lên trông khác nhau? Có người sinh ra đã có bệnh, dị dạng; [người ta khi sinh đã] khác nhau. Chúng tôi từ trên cao tầng mà nhìn, [thấy rằng] tại không gian khác [đã] tồn tại một đời người sắp đặt ở đó; hỏi có thể như nhau không? Cứ muốn rằng bình quân, [nhưng] trong đời của họ không có [thứ ấy], thì bình quân sao đây? [Người ta là] khác nhau. Người ở các nước phương tây có tính cách tương đối hướng ngoại; cao hứng có thể nhận thấy, nóng giận cũng có thể nhận thấy. Họ có chỗ tốt của họ, nhưng cũng có chỗ dở của họ, không thể nhẫn nại. Hai loại quan niệm tính cách khác nhau, thực thi sự việc sẽ sinh ra hiệu quả khác nhau. Người Trung Quốc nếu được lãnh đạo biểu dương, hoặc cấp cho chư vị thứ tốt nào đó, thì người khác sẽ bất bình trong tâm. Nếu được thưởng nhiều hơn, thì bản thân [họ] len lén cất ngay vào túi, không thể để người khác biết. Hiện nay làm người gương mẫu trong lao động không dễ Anh là lao động gương mẫu thì anh làm được rồi; anh phải đến sớm về muộn, những việc ấy anh làm đi; anh làm được tốt, còn chúng tôi không được’, giễu cợt châm chọc [như thế]; làm người tốt không dễ. Nếu ở nước ngoài thì sẽ khác biệt rõ ràng. Ông chủ thấy vị này hôm nay làm việc tốt, thưởng cho vị ấy nhiều hơn. Vị ấy sẽ vô cùng thích thú ở ngay trước mặt mọi người mà đếm từng tờ tiền một A, hôm nay ông chủ cho tôi nhiều tiền chưa này’, [vị ấy] mừng rỡ đếm từng tờ bảo cho mọi người, vị ấy cũng không có hậu quả gì. Còn nếu ở Trung Quốc, nếu có người được thưởng, thì cả lãnh đạo cũng bảo chư vị cất ngay đi, chớ để người khác trông thấy. Ở nước ngoài, một đứa trẻ được 100 điểm ở trường, nó sướng quá vừa chạy vừa la lớn Hôm nay con được 100 điểm, hôm nay con được 100 điểm!’ Một mạch từ trường chạy về nhà. Hàng xóm sẽ mở cửa nói Này Tom, giỏi đấy, thằng bé giỏi đấy!’ Người kia sẽ mở cửa sổ nói Này Jack, cháu khá lắm!’ Nếu điều này xảy ra ở Trung Quốc thì quả là hỏng hẳn Con được 100 điểm, con được 100 điểm!’ đứa trẻ từ trường chạy về nhà, thì cửa nhà [hàng xóm] chưa mở, trong nhà [người ta] đã nguyền rủa rồi Có gì là ghê gớm thế, được 100 điểm? Sĩ diện! Ai chưa từng được 100 điểm kia chứ!’ Hai loại quan niệm bất đồng sẽ dẫn đến những hiệu quả khác nhau. Nó có thể dẫn đến tâm tật đố người khác nếu [có điều gì] tốt, thì thay vì cảm thấy mừng cho họ, người ta lại thấy bất bình trong tâm. Nó sẽ xuất hiện vấn đề này. Chủ nghĩa bình quân tuyệt đối thực thi mấy năm trước đây, quả thực đã làm loạn bậy quan niệm tư tưởng con người. Lấy thí dụ cụ thể thế này. Một cá nhân tại đơn vị [công tác], anh ta thấy rằng người khác đều không bằng mình, anh ta làm gì cũng được tốt, nhận rằng [mình] thật xuất sắc. Anh ta tự nhủ Để mình làm giám đốc hay tổng giám đốc nhà máy, mình cũng làm tốt; chức vụ cao hơn thế mình cũng có thể làm; mình có thể làm thủ tướng cũng được’. Lãnh đạo cũng có thể nói rằng anh này rất khá, làm gì cũng tốt. Các bạn đồng sự cũng có thể nói, rằng anh ta rất giỏi, biết việc, có tài năng. Tuy nhiên ngay trong tổ [công tác] hoặc cùng phòng của anh này có một cá nhân, làm gì cũng không thành, làm gì cũng không nên. Rồi một hôm, cá nhân không có năng lực kia lại được đề bạt làm cán bộ, chứ không phải anh ta, hơn nữa lại làm lãnh đạo của chính anh ta. Anh này thấy rất bất bình trong tâm, gặp cả trên cả dưới để trình bày, thấy rất căm phẫn bất bình, [ghen tức] tật đố rất khó chịu. Tôi giảng [Pháp] lý này cho mọi người, [Pháp] lý mà người thường không thể nhận thức ra được chư vị thấy rằng mình làm gì cũng được, [nhưng] mệnh của chư vị không có [nó]; anh ta làm gì cũng không nên, [nhưng] mệnh của anh ta có [nó], nên anh ta sẽ làm lãnh đạo. Bất kể người thường suy nghĩ thế nào, đó chỉ là cách nghĩ của người thường. Với sinh mệnh trên tầng cao hơn mà xét, rằng sự phát triển của xã hội nhân loại, chẳng qua chỉ là sự phát triển chiểu theo quy luật phát triển đặc định mà thôi; do đó [về việc] người ta trong đời làm gì, họ có thể không an bài cho chư vị chiểu theo bản sự của chư vị. Trong Phật giáo giảng nghiệp lực luân báo’ họ chiểu theo nghiệp lực của chư vị mà an bài cho chư vị; bản sự của chư vị có lớn đến mấy, [nhưng] chư vị không có đức, thì có thể cả đời chư vị chẳng có gì. Chư vị thấy rằng vị kia làm gì cũng không nên, [nhưng] đức của vị ấy lớn, [thì] vị ấy làm đại quan, phát đại tài. Người thường không nhìn thấy điểm này, họ cứ cho rằng bản thân họ cần phải làm chính những gì bản thân cần làm. Do vậy họ một đời tranh đấu ngược xuôi; cái tâm ấy bị tổn thương rất lớn, cảm thấy thật khổ, thật mệt, luôn bất bình trong tâm. Ăn không ngon, ngủ không yên, tâm ý nguội lạnh như tro tàn; khi về già, làm cho thân của mình thật tàn tạ, các thứ bệnh tật xuất hiện. Như vậy những người tu luyện chúng ta lại càng không nên thế; những người tu luyện chúng ta giảng tuỳ kỳ tự nhiên’; cái gì của chư vị thì sẽ không mất, cái gì không của chư vị thì chư vị [dù có] tranh [giành] cũng không được. Tất nhiên cũng không tuyệt đối. Nếu tuyệt đối đến vậy, thì không tồn tại vấn đề con người làm điều xấu, vậy nghĩa là nó cũng còn tồn tại một số nhân tố bất ổn định. Tuy nhiên chúng ta là người luyện công, thì về lý là do Pháp thân của Sư phụ quản; người khác có muốn lấy thứ gì của chư vị thì cũng không lấy được. Do đó chúng ta giảng tuỳ kỳ tự nhiên’; có lúc chư vị thấy rằng thứ ấy là [của] chư vị, người ta cũng nói với chư vị rằng thứ ấy là [của] chư vị; kỳ thực nó không phải [của] chư vị. Chư vị có thể cho rằng đó là của mình, [nhưng] rốt cuộc nó lại không phải của chư vị; qua đó thấy được rằng đối với sự việc này chư vị có thể vứt bỏ được không; vứt bỏ không được thì chính là tâm chấp trước; chính là dùng cách này để chư vị vứt bỏ tâm [chấp trước] vào lợi ích ấy; chính là vấn đề này. Bởi vì người thường không ngộ được [Pháp] lý này, nên với lợi ích trước mắt mà tranh mà đấu. Tâm tật đố phản ánh tại cõi người thường quả là rất ghê gớm, tại giới tu luyện xưa nay cũng phản ánh khá nổi cộm. Giữa các công phái không chịu phục nhau; công của ông tốt, công của họ tốt’, bàn luận chỗ hay chỗ dở đều có cả; tôi thấy rằng đó đều cùng ở tầng chữa bệnh khoẻ người thôi. Các [công phái] đấu với nhau đại đa số đều là những công loạn bậy do phụ thể mang đến, [họ] cũng không giảng tâm tính. Có người luyện công luyện đến trên 20 năm vẫn chưa xuất hiện công năng, người khác vừa luyện liền xuất hiện công năng; tâm lý vị kia liền thấy bất bình Tôi luyện công trên 20 năm rồi, tôi vẫn chưa xuất công năng; anh ta xuất công năng, anh ta xuất công năng nào vậy?’ Trong tâm vị ấy bị thương tổn Anh ta bị phụ thể rồi, tẩu hoả nhập ma rồi!’ [Khi] khí công sư mở lớp [giảng bài], có vị kia ngồi đó không phục A, khí công sư nào vậy, tôi chẳng buồn nghe mấy thứ đồ của ông ta’. Có thể là khí công sư thật sự giảng không hay bằng vị kia, nhưng điều khí công sư ấy giảng là những điều trong môn của bản thân ông ta. Còn vị kia thì cái gì cũng học, có cả chồng chứng chỉ tốt nghiệp, có khí công sư nào mở lớp [giảng] vị ấy cũng đến tham dự, vị này quả thực biết rất nhiều, còn biết nhiều hơn cả khí công sư kia. Nhưng nào có tác dụng gì? Đều là thứ chữa bệnh khoẻ người thôi, vị này càng trang bị ôm đồm nhiều thứ, thì tín tức lại càng loạn, càng phức tạp, càng không tu được, đều đã loạn lung tung hỏng cả. Tu luyện chân chính giảng chuyên nhất, không xuất hiện thiên sai nào hết. Người tu Đạo chân chính cũng có phản ánh [vấn đề tâm tật đố] này, đối với nhau không phục; [nếu] tâm tranh đấu không bỏ, cũng dễ sinh ra tâm tật đố. Chúng ta nói về truyện Phong Thần diễn nghĩa», trong đó có ông Thân Công Báo thấy rằng Khương Tử Nha vừa già vừa không có bản sự gì; tuy nhiên Nguyên Thuỷ Thiên Tôn lại cho Khương Tử Nha [được đi] phong Thần. Trong tâm Thân Công Báo thấy bất bình Để ông ấy phong Thần là sao? Các vị thấy tôi Thân Công Báo này thật lợi hại, đầu của tôi cắt rơi xuống rồi lại đặt lên được, tại sao không để tôi phong Thần?’ Ông ta tật đố quá không chịu được, cứ mãi theo loạn phá Khương Tử Nha. Thời đại Thích Ca Mâu Ni Phật giáo nguyên thuỷ có giảng công năng, hiện nay trong Phật giáo không có ai dám giảng công năng nữa. Nếu chư vị giảng công năng, họ sẽ nói chư vị tẩu hoả nhập ma. Công năng là cái gì vậy? Họ hoàn toàn không thừa nhận. Vì sao? Hoà thượng hiện nay hoàn toàn không biết đó là gì. Thích Ca Mâu Ni có mười đại đệ tử, [trong đó] Mục Kiền Liên được Ông nói là đệ nhất về thần thông. Thích Ca Mâu Ni cũng có các nữ đệ tử, trong đó một người tên là Liên Hoa Sắc, cũng là thần thông đệ nhất. Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc cũng lại như thế, trong lịch sử có nhiều cao tăng, khi Đạt Ma đến Trung Quốc là bằng một cọng lau vượt sông. Tuy nhiên khi lịch sử phát triển thì thần thông càng ngày càng bị bài xích. Nguyên nhân chủ yếu là những vị như đại hoà thượng, hoà thượng trụ trì, phương trượng trong chùa không nhất định là những người đại căn cơ; dẫu họ làm phương trượng, làm đại hoà thượng, nhưng đó chẳng qua chỉ là chức vị ở nơi người thường, họ cũng là người còn đang trong tu luyện; họ bất quá chỉ là [người tu] chuyên nghiệp thôi. Chư vị [tu] ở nhà là nghiệp dư. Tu thành được hay không là tuỳ vào cái tâm này mà tu, đều như nhau, kém một chút là không được. Tuy nhiên tiểu hoà thượng làm cơm ở nhà bếp lại không nhất định là người tiểu căn cơ. Tiểu hoà thượng ấy càng chịu khổ thì càng dễ khai công, còn đại hoà thượng kia càng hưởng thụ càng khó khai công, bởi vì [ở đây] có vấn đề chuyển hoá nghiệp lực. Tiểu hoà thượng thường xuyên vừa khổ vừa nhọc, hoàn nghiệp sẽ nhanh, nên khai ngộ mau chóng; có lẽ đến một hôm vị này lập tức khai công. Hễ khai công, khai ngộ hoặc giả bán khai ngộ, thì thần thông xuất lai; các hoà thượng trong chùa đều đến hỏi vị này, mọi người đều bội phục vị này. Tuy nhiên trụ trì không chịu nổi Tôi còn là trụ trì nữa không, khai ngộ là cái chi vậy? Anh ta bị tẩu hoả nhập ma rồi, trục xuất anh ta đi thôi’. Và đuổi [anh ta] khỏi chùa. Dần dần trong Phật giáo ở vùng đất người Hán chúng ta không còn ai dám bàn về công năng. Chư vị thấy Tế Công với bản sự lớn thế, chuyển gỗ từ núi Nga Mi, từ trong giếng ném từng khúc từng khúc lên trên, nhưng rốt cuộc vẫn bị trục xuất khỏi chùa Linh Ẩn1. Vấn đề tâm tật đố rất nghiêm trọng, bởi vì nó liên quan trực tiếp đến vấn đề chúng ta có thể tu viên mãn được hay không. Nếu tâm tật đố không dứt bỏ, thì hết thảy các tâm người ta tu luyện được đều biến thành yếu nhược. Có một quy định, rằng trong tu luyện nếu người ta không vứt bỏ được tâm tật đố thì không đắc chính quả, tuyệt đối không đắc chính quả. Trước đây có thể chư vị đã nghe thuyết rằng Phật A Di Đà giảng về việc mang theo nghiệp khi vãng sinh; [nhưng] nếu tâm tật đố không bỏ thì không được. Nếu phương diện khác còn kém chút ít, mang theo đôi chút nghiệp vãng sinh, rồi tu tiếp, điều ấy có thể được, nhưng nếu tâm tật đố không bỏ thì tuyệt đối không thể. Hôm nay tôi giảng [điều này] với những người luyện công, chư vị chớ có chấp mê bất ngộ như thế; nếu chư vị muốn đạt mục đích tu luyện lên cao tầng, thì tâm tật đố nhất định phải vứt bỏ. Do vậy chúng tôi giảng riêng về phần này như vậy. Vấn đề trị bệnh Bàn về trị bệnh, [tôi] không dạy chư vị trị bệnh. Các đệ tử chân tu của Pháp Luân Đại Pháp không ai được trị bệnh cho người ta; hễ chư vị trị bệnh, thì tất cả những gì của Pháp Luân Đại Pháp mang trên thân chư vị đều sẽ bị Pháp thân của tôi thu hồi toàn bộ. Vì sao coi vấn đề này nghiêm trọng như vậy? Bởi vì đó là một hiện tượng phá hoại Đại Pháp. Không chỉ làm tổn hại đến thân thể của bản thân chư vị; có người một khi đã khám bệnh là muốn thế mãi, gặp ai cũng muốn lôi vào coi bệnh cho người ta, [để] hiển thị bản thân; đó chẳng phải là tâm chấp trước là gì? Ảnh hưởng nghiêm trọng đến tu luyện của mọi người. Có rất nhiều khí công sư giả nắm bắt được tâm lý của người thường, rằng sau khi học khí công liền muốn coi bệnh cho người, nên [họ] dạy chư vị những điều ấy. Nói rằng phát khí có thể trị bệnh, nói vậy chẳng phải là nói đùa? Chư vị là khí, họ cũng là khí, chư vị phát khí là có thể trị bệnh cho người ta sao? Có khi khí của người ta lại trị cho chư vị cũng nên! Giữa khí với nhau không có tác dụng chế ước. Khi tu luyện tại cao tầng người ta [có thể] xuất công, [thứ] phát xuất ra là vật chất cao năng lượng, nó thực sự có thể trị bệnh, có thể ước chế bệnh, có thể có tác dụng ức chế; nhưng vẫn không thể trừ tận gốc. Do đó [để] thật sự có thể trị bệnh, phải có công năng mới có thể trị bệnh triệt để. Mỗi một loại bệnh đều có một loại công năng trị liệu nhắm vào bệnh ấy; chỉ riêng về các công năng trị bệnh, tôi nói rằng có trên nghìn loại, có bao nhiêu bệnh thì có bấy nhiêu công năng để trị. Nếu không có công năng ấy, thì tay chư vị có xuất chiêu gì cũng vô dụng. Mấy năm gần đây một số người đã gây bao hỗn loạn trong giới tu luyện. Những khí công sư xuất hiện để thật sự chữa bệnh khoẻ người, những khí công sư khai thuỷ mở con đường ấy, [trong số họ] hỏi nào có ai dạy người ta đi trị bệnh? [Họ] đều chỉ giúp chư vị chữa bệnh hoặc dạy chư vị tu luyện thế này thế kia, rèn luyện thân thể như thế này thế kia, dạy chư vị một bộ công pháp, sau đó chư vị thông qua việc tự mình rèn luyện mà khỏi bệnh. Về sau các khí công sư giả xuất hiện làm thành ô yên chướng khí, hễ ai muốn trị bệnh đều chiêu mời phụ thể, nhất định là như vậy. Tại hoàn cảnh thời ấy cũng có một số khí công sư khám bệnh, đó là để phối hợp với thiên tượng lúc bấy giờ. Tuy nhiên đó không phải là kỹ năng của người thường, không thể duy trì mãi như thế, đó là thiên tượng biến hoá vào thời ấy mà thành như vậy, đó là sản phẩm của thời ấy. Về sau [những người] chuyên môn dạy người ta đi trị bệnh, đã làm loạn cả lên. Một người thường [sau] ba ngày, năm ngày liền có thể trị bệnh là sao? Có người nói Tôi có thể trị bệnh này, bệnh kia’. Tôi nói với chư vị, rằng phàm là như thế đều có mang theo phụ thể, chư vị có biết đằng sau lưng chư vị có gì nằm ở đó không? Chư vị có phụ thể, mà bản thân chư vị không cảm thấy, chư vị không biết, chư vị lại cho là tốt lắm, cho rằng bản thân mình có bản sự. Các khí công sư chân chính phải trải qua bao nhiêu năm khổ tu, mới có thể đạt được mục đích ấy. Khi chư vị trị bệnh cho người ta, chư vị thử nghĩ xem mình đã có chủng công năng lớn mạnh để tiêu trừ nghiệp lực cho người ta hay không? Chư vị đã được chân truyền chưa? Chư vị [sau] ba ngày, hai hôm liền có thể trị bệnh là sao? Chư vị với bàn tay của người thường có thể trị bệnh là sao? Nhưng những khí công sư giả kia, họ nắm trúng nhược điểm của chư vị, nắm trúng tâm chấp trước của con người chư vị chẳng phải mong cầu trị bệnh là gì? Tốt thôi, họ bèn mở lớp dạy trị bệnh, chuyên dạy chư vị các thủ pháp trị liệu. Nào là khí châm, nào là phép chiếu quang, bài [khí], bổ [khí], nào là điểm huyệt, nào là phép chộp bắt, rất nhiều thứ với mục đích chính là kiếm tiền của chư vị. Chúng ta hãy nói về [cách] chộp bắt. Tình huống mà chúng tôi nhìn thấy là như thế này con người vì sao có bệnh? Nguyên nhân căn bản làm cho người ta có bệnh hoặc bất hạnh [chính] là nghiệp lực, trường nghiệp lực vật chất màu đen. Nó là thứ thuộc về tính âm, thuộc về những thứ không tốt. Còn những con linh thể bất hảo kia, cũng là thứ có tính âm, đều là thuộc [loại màu] đen, do vậy chúng có thể gắn vào; hoàn cảnh đó thích hợp với chúng. Chúng là nguyên nhân căn bản làm người ta trở thành có bệnh, đó là căn nguyên chủ yếu nhất của bệnh. Tất nhiên còn có hai hình thức [khác] nữa một là tiểu linh thể rất nhỏ rất nhỏ nhưng mật độ rất lớn, như một cục nghiệp lực; còn nữa là thứ giống như cái ống dẫn đến, loại này ít gặp, đều là do tổ tiên ở trên tích tụ lại; cũng có tình huống như thế. Chúng tôi hãy giảng [tình huống] phổ biến nhất; người ta mọc khối u chỗ này, phát viêm chỗ kia, có gai xương ở chỗ nào đó, nơi không gian khác thì có một con linh thể nằm chính tại chỗ đó, có một con linh thể tại không gian rất thâm sâu. Khí công sư bình thường không thấy được [linh thể ấy], công năng đặc dị bình thường không thấy được, chỉ có thể thấy rằng thân thể có khí đen. Tại chỗ nào có khí đen, thì chỗ đó có bệnh, nói như thế là đúng. Nhưng khí đen không phải là nguyên nhân căn bản tạo thành bệnh, mà là vì ở trong một không gian thâm sâu hơn có con linh thể kia, [chính] là nó phát xuất ra cái trường. Do vậy có người nói nào là bài [khí], nào là tiết [khí]. Chư vị cứ bài [khí] đi! Không mấy chốc nó lại sản sinh ra, có [con] có lực rất mạnh, vừa bài [khí] ra [nó] lại kéo trở lại, bản thân nó có thể thu hồi lại, làm cho việc trị [bệnh] như thế không được. Theo công năng đặc dị mà xét, thì chỗ ấy có khí đen, xác nhận là có khí bệnh; Trung Y xét thì chính là chỗ ấy các mạch không thông, khí huyết không thông, mạch ứ tắc; Tây Y xét thì chính là chỗ ấy có hiện tượng như lở loét, mọc u, gai xương, hoặc phát viêm; nó phản ánh đến không gian này với hình thức như thế. Sau khi chư vị gỡ bỏ [linh thể] ấy đi rồi, thì chư vị phát hiện rằng trên thân thể ở bên [không gian] này chẳng còn [bị] gì nữa. Những gì là lệch đĩa đệm thắt lưng, gai xương, thì sau khi chư vị gỡ bỏ [linh thể] đó xuống, lấy trường kia ra xong, chư vị sẽ thấy lập tức khỏi [bệnh]. Chư vị thử chụp lại X-quang, thì không còn thấy gai xương nào nữa; nguyên nhân căn bản là do [linh thể] kia khởi tác dụng. Có người nói rằng [sau] ba hôm có thể trị bệnh, năm ngày có thể trị bệnh, dạy chư vị phép chộp bắt. Chư vị chộp cho tôi xem! Con người là yếu kém nhất, còn linh thể kia quả là rất lợi hại. Nó khống chế đại não chư vị, điều khiển chư vị quay vòng vòng như trò chơi, còn dễ dàng lấy đi sinh mệnh của chư vị. Chư vị nói chư vị chộp nó, chộp thế nào đây? Bàn tay người thường của chư vị không động đến nó được, chư vị tại đó khua loạn lên, nó cũng không quan tâm, nó đang ở sau lưng cười chư vị chộp loạn cả lên, sao khôi hài vậy; nếu chư vị thật sự động đến nó được, thì nó lập tức làm tay chư vị bị thương; vết thương thực sự đấy! Quá khứ tôi có gặp một số người, hai tay không bị sao, kiểm tra thế nào cũng không thấy thân thể có bệnh, hai tay không có bệnh, nhưng không giơ tay lên được, cứ rủ xuống như thế này; tôi từng gặp bệnh nhân như thế. [Thân] thể tại không gian khác bị thương rồi, đã thật sự bị tàn phế rồi. Cái [thân] thể ấy của chư vị mà bị thương, thì chẳng đúng tàn phế là gì? Có người hỏi tôi Thưa Sư phụ, con có thể luyện công được không? Con đã bị [phẫu thuật] tuyệt dục rồi’ hoặc đã bị cắt bỏ gì đó rồi’. Tôi nói rằng điều đó không ảnh hưởng, cái [thân] thể ở không gian khác của chư vị không bị [phẫu] thuật, mà luyện công là cái [thân] thể ấy khởi tác dụng. Do vậy tôi mới nói, chư vị chộp nó, [nhưng] chư vị không động đến nó được, [thì] nó cũng không quan tâm đến chư vị; chư vị [mà] động đến nó, có thể nó làm tay chư vị bị thương. Để ủng hộ hoạt động khí công có quy mô lớn của quốc gia, tôi đưa một số đệ tử tham gia Hội Sức Khoẻ Đông Phương tại Bắc Kinh. Tại hai lần hội chúng tôi đều nổi bật nhất. Lần hội thứ nhất, Pháp Luân Đại Pháp chúng tôi được vinh dự là Minh Tinh công phái’; vào hội lần thứ hai người [đến] đông quá không biết làm thế nào. Tại gian khác không có mấy người, còn tại gian chúng tôi thì mọi người đứng chật khắp chung quanh. Xếp thành ba hàng, từ sớm hàng thứ nhất là đăng ký hết cho buổi sáng, hàng thứ hai đợi cho đăng ký buổi chiều, còn một hàng nữa đợi xin chữ ký của tôi. Chúng ta không trị bệnh, vì sao lại thực hiện điều ấy? Bởi vì đây là ủng hộ hoạt động khí công quy mô lớn của quốc gia, cống hiến cho sự nghiệp ấy, do đó chúng tôi đã tham gia. Tôi lấy công của mình phân cho các đệ tử đi theo tôi, mỗi người một phần, đều là cục năng lượng hợp thành từ trên một trăm chủng công năng. Đều lấy tay của họ [niêm] phong lại, chính là như thế, có tay vẫn bị cắn, cắn đến giộp cả lên, chảy cả máu, điều ấy vẫn hay xảy ra. Thứ [linh thể] ấy lợi hại đến vậy, chư vị nghĩ rằng chư vị dám động đến nó bằng tay người thường của chư vị ư? Hơn nữa chư vị không động đến nó được, không có chủng công năng ấy thì không làm gì được. Vì tại một không gian khác [khi] chư vị muốn làm gì, hễ não chư vị nghĩ một cái nó liền biết, chư vị muốn chộp nó, nó đã chạy từ lâu. Đợi đến lúc bệnh nhân ra khỏi cửa, nó lập tức lại gắn vào, bệnh lại tái phát. Muốn động thủ trị [được] nó thì phải có chủng công năng ấy, vươn tay ra là “pắc” [một cái] định nó tại đó luôn. Sau khi định vững lại rồi, chúng ta còn có một chủng công năng, quá khứ gọi là nhiếp hồn đại pháp’, chủng công năng này còn lợi hại hơn, có thể lấy [toàn bộ] chỉnh thể nguyên thần của người ta lôi hết ra, cá nhân kia lập tức bất động. Công năng này có tính nhắm thẳng, và chúng ta nhắm thẳng vào thứ [linh thể] ấy mà chộp. Như mọi người đã biết, trong tay Phật Như Lai cầm chiếc bát, chiếu lên một cái, chư vị thấy rằng Tôn Ngộ Không lớn như thế, lập tức biến thành một điểm nhỏ. Công năng ấy khởi tác dụng như thế. Bất kể linh thể ấy lớn đến mấy, bất kể linh thể to nhỏ thế nào, lập tức bị chộp cứng trong tay, liền biến thành rất nhỏ. Ngoài ra, nếu lấy tay vươn vào trong nhục thể của bệnh nhân, rồi chộp lấy ra, dẫu làm được, cũng không được [phép]. Như thế sẽ làm loạn tư duy của con người tại xã hội người thường; hoàn toàn không cho làm thế. Họ đưa vào trong là cánh tay tại không gian khác. Giả thuyết người kia có bệnh ở tim, khi cánh tay này chuyển về phía của tim để chộp, thì cánh tay tại không gian khác sẽ đưa vào. Chỉ trong nháy mắt rất mau lẹ đã chộp vững xong rồi, tay bên ngoài của chư vị chộp bắt xong, hai tay lại hợp nhất lại, nó đã nằm trong tay rồi. Nó rất lợi hại, có lúc động đậy trong tay, dùi vào [tay], có lúc cắn, có lúc còn kêu thét. Chư vị thấy [nó] rất bé [khi] ở trong tay, nhưng thả ra khỏi tay liền biến thành rất lớn. Điều này không phải ai cũng dám động đến, không có công năng ấy thì hoàn toàn không động đến được, hoàn toàn không đơn giản như chúng ta vẫn tưởng tượng. Đương nhiên trong tương lai hình thức trị bệnh bằng khí công này cũng có thể được [phép] tồn tại; trong quá khứ nó vẫn luôn tồn tại. Nhưng phải có điều kiện, cá nhân ấy phải là người tu luyện, trong quá trình tu luyện họ xuất phát từ tâm từ bi, họ làm điều ấy giúp một số lượng ít những người tốt thì được. Nhưng họ không thể giúp người ta triệt để tiêu trừ nghiệp, uy đức của họ không đủ; do vậy [khó] nạn vẫn còn, chỉ có bệnh cụ thể kia là khỏi thôi. Một khí công sư nhỏ bé bình thường không phải là người đã đắc Đạo, họ chỉ có thể giúp người ta trì hoãn về sau; cũng có thể chuyển hoá, cũng có thể chuyển hoá thành tai nạn khác. Tuy nhiên bản thân họ không biết được quá trình trì hoãn về sau [ra sao]; nếu [người] tu luyện công pháp ấy là phó ý thức, thì phó ý thức của họ đã làm [điều ấy]. Có những người tu luyện của một số công pháp dường như có danh [tiếng] rất lớn, có rất nhiều đại khí công sư có danh tiếng hiển hách nhưng không hề có công; công [của họ] đều có trên thân của phó nguyên thần. Nghĩa là, trong quá trình tu luyện cho phép làm như vậy, bởi vì có một số người cứ duy trì ở tầng ấy, hễ luyện là đến mấy chục năm, mấy chục năm vẫn chưa ra khỏi tầng ấy, do đó họ suốt đời vẫn mãi đi coi bệnh coi bệnh cho người ta. Bởi vì họ đang ở tại tầng ấy, thì cũng cho phép họ làm như vậy. Các đệ tử tu luyện Pháp Luân Đại Pháp tuyệt đối không được phép đi coi bệnh [cho người khác]. Đọc cho người bệnh cuốn sách này, nếu như người bệnh có thể tiếp thu, thì có thể trị bệnh, tuy nhiên hiệu quả đối với những người có nghiệp lực to nhỏ khác nhau là khác nhau. Trị bệnh ở bệnh viện và trị bệnh bằng khí công Chúng tôi giảng một chút về vấn đề quan hệ giữa trị bệnh tại bệnh viện và trị bệnh bằng khí công. Một số bác sỹ Tây Y không thừa nhận khí công, có thể nói là đa số. Họ nói kiểu như Nếu như khí công có thể trị bệnh thì cần đến bệnh viện chúng tôi làm gì nữa? Các vị thay thế bệnh viện của chúng tôi đi thôi! Khí công các vị chạm tay vào là có thể trị khỏi bệnh, lại không cần tiêm, uống thuốc, nhập viện; thay thế bệnh viện chúng tôi chẳng quá tốt hay sao?’ Nói như thế rất không có đạo lý, rất không hợp lý. Có người không liễu giải được khí công; thực ra, coi bệnh bằng khí công không thể như các phương pháp trị liệu nơi người thường được, nó không phải là kỹ năng nơi người thường, nó là điều siêu thường. Điều siêu thường như thế nếu can nhiễu đến xã hội người thường trên diện rộng, hỏi có thể được phép không? Phật [có] bản sự rất lớn, một vị Phật huơ tay một cái, bệnh của toàn nhân loại sẽ không tồn tại. Tại sao ông không làm thế? Hơn nữa lại có nhiều Phật đến như vậy, tại sao họ không phát tâm từ bi làm chư vị khỏi bệnh? Bởi vì xã hội người thường chính là như thế, sinh lão bệnh tử chính ở trạng thái như thế, đều có quan hệ nhân duyên, đều là nghiệp lực luân báo; những gì chư vị mắc nợ [đều] phải hoàn [trả]. Nếu như chư vị chữa khỏi cho họ, thì cũng tương đương với phá hoại [Pháp] lý này; có thể làm điều xấu mà không cần hoàn [trả]; vậy có được chăng? Người trong [khi] tu luyện xuất tâm từ bi, khi chư vị chưa có lực lượng đủ mạnh để giải quyết triệt để vấn đề ấy, thì cho phép chư vị coi bệnh, vì chư vị xuất tâm từ bi rồi, cho phép làm như thế. Tuy nhiên nếu chư vị thật sự có thể giải quyết vấn đề ấy, thì giải quyết trên diện rộng là không được. Đó là chư vị phá hoại trạng thái xã hội người thường một cách nghiêm trọng, nên không thể được. Do đó khí công thay thế bệnh viện của người thường là [điều] hoàn toàn không được; nó là Pháp ở nơi siêu thường. Nếu như tại Trung Quốc lập nên các bệnh viện khí công, ví như cho phép làm như thế, rằng các đại khí công sư đều xuất lai để làm, chư vị thử coi sẽ ra sao? Không cho phép làm như vậy, bởi vì phải duy hộ trạng thái của xã hội người thường. Nếu như dựng lập các bệnh viện khí công, phòng điều trị khí công, trung tâm sức khoẻ, thắng địa liệu dưỡng bằng khí công, thì một khi lập nên, thì [khả năng] trị bệnh của các khí công sư sẽ sụt xuống ngay, hiệu quả trị bệnh lập tức sẽ không được [tốt] nữa. Vì sao? Vì họ đang làm những [sự việc] ở nơi người thường, thì cũng phải cao như Pháp ở cõi người thường, hoà [hợp] với trạng thái của người thường tại tầng ấy, hiệu quả trị bệnh của họ cũng giống như [hiệu quả trị bệnh] của bệnh viện. Do đó trị bệnh sẽ không được [tốt] nữa, họ cũng sẽ phải giảng trị bệnh cần một số liệu trình; thông thường là như vậy. Dẫu khí công thành lập bệnh viện cũng vậy, không lập bệnh viện cũng vậy, thì việc khí công có thể trị bệnh là một điểm không ai phủ nhận được. Khí công phổ biến trong xã hội trong một thời gian lâu ngần ấy, có bao nhiêu người thông qua luyện công đã thực sự đạt được mục đích chữa bệnh khoẻ người. Dẫu là họ được khí công sư trì hoãn bệnh lại về sau cũng vậy, làm thế nào cũng vậy, dù sao thì bệnh kia bây giờ đã khỏi; tức là việc khí công có thể trị bệnh là điều không ai phủ nhận được. Đa số những [người] tìm đến khí công sư để coi bệnh, đều được xem là bệnh nan y, đã từng đến bệnh viện chữa không khỏi, nên đến gặp khí công sư thử vận may, kết quả đã chữa khỏi. Những [ai] đã được chữa khỏi tại bệnh viện thì không tìm đến khí công sư, nhất là vào giai đoạn ban đầu, người ta đều nhận thức như thế cả; như vậy khí công là có thể khám bệnh. Nó bất quá chỉ không thể thực hiện giống như những sự việc khác nơi xã hội người thường. Can thiệp trên diện rộng là tuyệt đối không được phép; trên diện hẹp hoặc không có ảnh hưởng to lớn gì, âm thầm lặng lẽ mà thực hiện thì được; nhưng cũng không được chữa triệt để khỏi bệnh, điều này là khẳng định. Tự mình dùng khí công rèn luyện chữa bệnh là tốt nhất. Có khí công sư giảng bệnh viện chữa bệnh không được, hiệu quả trị liệu của bệnh viện hiện nay thế này thế kia. Chúng ta nói như thế nào? Tất nhiên nó có nguyên nhân nhiều mặt. Tôi thấy rằng chủ yếu nhất là [do] chuẩn mực đạo đức của con người thấp kém, đã tạo thành các loại bệnh kỳ quái, bệnh viện chữa không khỏi, dùng thuốc cũng không xong; thuốc giả cũng nhiều; đều là vì xã hội nhân loại đã bại hoại đến mức độ như thế. Mỗi người cũng đừng oán người khác, ai ai cũng đều có góp sóng thành bão ở trong đó, vậy nên người nào tu luyện cũng phải gặp khổ nạn. Có những bệnh mà bệnh viện kiểm tra không ra, nhưng xác thực là có bệnh. Có những người kiểm tra là có bệnh, nhưng không biết tên gọi [bệnh] đó là gì, là bệnh chưa từng gặp, bệnh viện gọi chung [đó là] “bệnh hiện đại”. Hỏi bệnh viện có thể chữa bệnh không? Tất nhiên là có. Nếu bệnh viện không thể trị bệnh, thì hỏi tại sao người ta lại tin, tại sao lại đến đó để chữa bệnh. Bệnh viện vẫn có thể trị bệnh, chỉ có điều cách trị liệu của nó là tại tầng của người thường, còn bệnh kia lại là [điều] siêu thường, có những bệnh rất nặng. Do đó bệnh viện giảng rằng trị bệnh cần trị sớm, nặng quá họ cũng không trị được; [dùng] nhiều thuốc quá thì người ta [ngộ] độc. Chuẩn mực của bệnh viện hiện nay là ngang với chuẩn mực của khoa học kỹ thuật của chúng ta, đều ở tại tầng của người thường, do đó nó chỉ có hiệu [quả trị] liệu như vậy thôi. Có một vấn đề cần nói rõ, trị bệnh bằng khí công thông thường và trị bệnh tại bệnh viện, đều là đưa cái nạn nguyên nhân tạo thành bệnh trì hoãn lại về sau, trì hoãn về nửa đời sau này hoặc về sau, hoàn toàn không động đến nghiệp lực. Chúng tôi lại giảng một chút về Trung Y. Trị bệnh của Trung Y rất gần với trị bệnh của khí công. Tại Trung Quốc cổ đại, các bác sỹ Trung Y nói chung đều có công năng đặc dị, các đại y học gia như Tôn Tư Mạc, Hoa Đà, Lý Thời Trân, Biển Thước, đều có công năng đặc dị, trong sách y học đều có chép lại. Tuy nhiên hiện nay những điều tinh hoa ấy thường hay bị phê phán; kế thừa của Trung Y [hiện nay] bất quá chỉ là một chút dược phương, hoặc giả một số dò dẫm kinh nghiệm. Trung Y thời Trung Quốc cổ đại rất phát triển, trình độ phát triển vượt siêu xuất so với y học hiện nay. Có người nghĩ, y học hiện nay phát triển lắm, làm [quét ảnh] CT là có thể nhìn thấy nội bộ bên trong thân thể người ta, làm siêu âm, chụp hình, chụp X-quang, các thiết bị hiện đại rất là tiên tiến; theo tôi nhìn nhận thì như vậy cũng không được [bằng] y học thời Trung Quốc cổ đại. Hoa Đà thấy trong não của Tào Tháo có khối u, cần mở não để làm thủ thuật bỏ khối u. Tào Tháo nghe vậy liền tưởng rằng Hoa Đà muốn lấy đầu của mình, [nên] bắt Hoa Đà giam lại, kết quả Hoa Đà chết trong nhà ngục. Khi Tào Tháo mắc bệnh, nghĩ đến Hoa Đà, tìm đến Hoa Đà, thì Hoa Đà đã chết rồi. Sau đó Tào Tháo thật sự mắc bệnh ấy mà chết. Vì sao Hoa Đà biết? Ông ta đã nhìn thấy, đó là công năng đặc dị của con người chúng ta, các y học gia trong quá khứ đều có trang bị bản sự ấy. Sau khi khai thiên mục, thì từ một mặt có thể đồng thời thấy được thân thể người ta từ bốn mặt; từ mặt trước có thể thấy mặt sau, mặt trái, mặt phải; còn có thể thấy từng lớp cắt của mỗi tầng; còn có thể thấu qua không gian này mà thấy được nguyên nhân căn bản của bệnh là gì. Phương pháp của y học hiện đại có thể đạt được như vậy không? Còn cách xa lắm, [phải] thêm một nghìn năm nữa! [Quét ảnh] CT, siêu âm, X-quang cũng có thể nhìn được bộ phận bên trong của thân thể người, nhưng đồ cơ khí đó to lắm, và thứ to lớn thế cũng không dễ mang theo [người], không có điện không [dùng] được. Còn thiên mục này là mang đâu theo đó, không cần nguồn [điện], làm sao sánh được! Có người giảng rằng thuốc hiện đại như thế này như thế kia. Tôi nói rằng không hẳn thế, thảo dược của Trung Quốc cổ đại thật sự có thể thuốc vào là bệnh hết’. Có rất nhiều điều đã thất truyền; có rất nhiều điều không thất truyền, đang lưu truyền trong dân gian. Vào thời giảng bài tại Tề Tề Cáp Nhĩ tôi có nhìn thấy một người dựng quầy ngoài phố để nhổ răng cho người ta. Nhìn qua là thấy vị này đến từ phương nam, không ăn mặc theo kiểu người vùng Đông Bắc. Ai đến cũng không từ, ai đến vị ấy cũng nhổ, răng nhổ được xếp thành một đống thế này. Vị này nhổ răng không phải là mục đích, mà mục đích là bán thuốc của mình. Thuốc ấy bốc lên lớp khí vàng rất đặc. Khi nhổ răng, bèn mở nắp lọ thuốc nước ra, ở ngoài má hướng vào chỗ răng sâu, bảo người ta hít chút khí thuốc màu vàng; nước thuốc coi như không vơi đi chút nào, lại đậy nắp lại. Rút trong túi ra một que diêm, vừa nói về thuốc của mình, vị ấy vừa lấy que diêm để khều răng, cái răng liền rời ra, cũng không đau, chỉ có một tý máu, cũng không chảy máu. Mọi người thử nghĩ xem, nếu dùng lực hơi mạnh là que diêm gẫy ngay, vậy mà vị này lại dùng que diêm khêu một cái là nhổ được răng. Tôi nói rằng Trung Quốc có một số điều đang lưu truyền tại dân gian, mà khí cụ chính xác của Tây Y không sánh được; thử xem hiệu quả ai tốt hơn, que diêm của vị ấy khêu một cái là được ngay. Tây Y nhổ răng trước hết phải tiêm thuốc tê, tiêm chỗ này, tiêm chỗ kia, châm kim đau lắm; đợi thuốc tê có tác dụng, rồi lấy kìm để nhổ. Nhổ cả nửa ngày không khéo chân răng gẫy [còn lại ở trong]. Bèn lấy búa lấy đục để tróc ra, đập làm cho đau đớn kinh khiếp, rồi lại dùng khí cụ chính xác để khoan cho chư vị. Có người bị khoan đau quá chỉ muốn nhảy dựng lên, chảy rất nhiều máu, nhổ ra một búng máu. Chư vị nói xem ai tốt hơn? Chư vị nói xem ai tiên tiến hơn? Chúng ta không thể chỉ coi công cụ bề ngoài, mà cần coi hiệu quả thực tế. Trung Y thời Trung Quốc cổ đại rất phát triển, Tây Y hiện đại còn phải trải qua bao nhiêu năm nữa mới theo được. Khoa học của Trung Quốc cổ đại khác với khoa học hiện nay mà chúng ta học từ phương tây, nó đi theo một con đường khác, có thể đưa đến trạng thái khác. Do đó không thể dùng phương pháp nhận thức của chúng ta hiện nay để nhận thức khoa học kỹ thuật của Trung Quốc cổ đại, bởi vì khoa học Trung Quốc cổ đại là nhắm thẳng vào [thân] thể người, sinh mệnh, vũ trụ; nhắm trực tiếp vào những điều ấy mà nghiên cứu, do đó [nó] đi theo một con đường khác. Thời ấy người đi học, đều phải chú trọng đả toạ, khi ngồi cũng giảng [phải] có tư thế; khi cầm bút viết cũng giảng [phải] vận khí hô hấp; các ngành các nghề đều giảng [phải] tịnh tâm, điều tức; toàn bộ xã hội đều đặt trong trạng thái như thế. Có người nói Chiểu theo khoa học của Trung Quốc cổ đại mà tiến, thì hỏi có xe hơi, xe lửa ngày nay không? Hỏi có thể có hiện đại hoá hôm nay không?’ Tôi nói rằng chư vị không thể đứng tại hoàn cảnh này mà nhận thức một trạng thái khác; [trong] quan niệm tư tưởng của chư vị cần phải có cách mạng mới được. Không có TV, [thì] ngay phía trước đầu bản thân mình đã mang theo, muốn coi gì liền thấy nấy, cũng có tồn tại công năng. Không có xe hơi, xe lửa, [thì] người ngồi đó có thể phiêu [đãng bay] lên, thang máy cũng không cần. Nó sẽ dẫn đến trạng thái phát triển khác của xã hội, không nhất định phải cuộc hạn vào cái khung này. Đĩa bay của người hành tinh khác đi lại thần tốc, biến lớn thu nhỏ. Họ đi theo một con đường phát triển còn khác hơn nữa, là một loại phương pháp khoa học khác.
bài giảng pháp luân công số 6